Vài nét về Hộp đêm, nhà hàng, và mua sắm ở Las Vegas – Anh Thư

Las Vegas,  thành phố có một không hai trên thế giới,  thủ đô ăn chơi và giải trí với đầy đủ sự xa hoa, rực rỡ, và tráng lệ cho khách du lịch.

Las Vegas còn là 1 thế giới thu nhỏ với hàng trăm casino được xây cất theo kiến trúc của nhiều thành phố nổi tiếng trên thế giới.

Đến Las Vegas ngoại trừ các sòng bài, thì hộp đêm, nhà hàng và đi mua sắm shopping là những điều không thể thiếu được trong quá trình chuẩn bị du lịch của du khách.

strip_b86ddbea-3add-4995-b449-ac85d700b027

Hộp đêm:

Hộp đêm là một ngành kinh doanh khổng lồ và đầy lợi nhuận tại đây.

Hầu như mỗi casino đều có những đêm night club đặc biệt cho Lady như:

Tao Nightclub ở Venetian, 1 Oak Nightclub ở Mirage, Omnia Nightclub ở Caesars Palace, Dra’s Beachclub & Nightclub ở The Cromwell Hotel Las Vegas – Caesars Entertainment, Encore ‘s Beach Club và còn nhiều nữa.

Ở các hộp đêm này thường có những DJ nổi tiếng, hoặc sự xuất hiện của các ngôi sao nổi tiếng đến từ Hollywood.

Các hộp đêm ở đây thường mở suốt đêm khuya cho tới sáng sớm, với hàng ngàn nam thanh nữ tú mỗi cuối tuần.

 tmg-article_default_mobile

Nhà hàng:

Nhà hàng ở đây thì khỏi chê, đủ các loại ăn Tây, Tàu, Nhật, Pháp, Ý vằ đậc biệt đa số mở của rất khuya trong các sòng bài – có nhiều Casino mở cả 24/24.

Khách du lịch có thể có một bữa ăn thịnh soạn, đắt tiền từ trên những tầng lầu chót vót như Paris Casino, Mandarin Oriental Express, Stratosphere, hoặc Skyfall Lounge ở  sòng bài Mandalay Bay.

Hầu như tất cả casino nào cũng có Buffet, vừa ngon, vừa rẻ, mà vừa ăn thả ga tùy ý quí vị lựa chọn.las-vegas-north-premium-outlets-13

Chẳng hạn như Caesars Palace Casino thì có Bacchanal Buffet -có đến trên 300 món, Wicked spoon Buffet-  tại Cosmopolitan với những món ăn cầu kỳ, ngon miệng, Bellagio và Rio Buffet nổi tiếng với đồ biển.

Dọc đường Spring Mountain cách Las Vegas strip không xa, thì có khu China Town với đủ loại thức ăn á đông Tàu, Đại Hàn, Việt Nam, Nhật, và Thái Lan.

 

 

Ăn chay thì có những tiệm như Garden grill, Vege-way,  Simply Pure rất là đông khách. Bạn lỡ có đánh bài thua thì vào đây ăn chay để sám hối, là chắc ăn, vừa rẻ, vừa ngon và vừa suy ngẫm tình đời.

 

Las Vegas còn có một chỗ ăn rất ngộ nghĩnh và độc đáo, dành cho những ai thích cảm giác lạ đời, và sẽ làm cho giác quan của quý vị được năng cao đó là “ăn trong bóng tối” Blackout dinning in the dark. Quý vị sẽ vào nhà hàng không một ánh sáng. thưởng thức những món ăn bằng 4 giác quan, và chỉ một giác quan là “thị giác” sẽ không dùng đến.

 

Shopping:

Mua sắm ở Las Vegas thì khỏi nói, sợ quý vị không tiền thôi, chứ cái gì ở trên thế giới có là Las Vegas có. Hàng trăm của hàng ngàn thương hiệu nổi tiếng lớn nhỏ tọa lạc ,trong và ngoài Casino, cũng như Fashion show mall ngay trung tâm strip, và Las Vegas Outlet phía nam, và Charleston outlet nằm về phía bắc của Las Vegas strip.

 LasVegasShopping

Cấu trúc của các Casino với của kiếng luôn luôn đóng, trần nhà với hình bầu trời, và không bao giờ có một cái đồng hồ, là cả một nghệ thuật để tạo cho du khách một cảm giác phiêu lãng, không còn biết ngày giờ. Vì vậy, cộng với các sinh hoạt ăn chơi thường được mở 24 giớ 1 ngày, 7 ngày 1 tuần, nên Las Vegas được mệnh danh là Thành Phố không bao giờ ngủ, hay là Thiên Đàng của tội lỗi.

Anh Thư

Las Vegas June 5th 2018

 

CÔ GIÁO TỴ NẠN JENNIFER RAMM trại tỵ nạn Galang, Nam Dương – Nguyễn Khắp Nơi

 

Cô Giáo Tỵ Nạn mà tôi và các bạn đề cập tới ngày hôm nay, không phải là cô giáo ở Việt Nam đi vượt biên, sống tạm thời tại các trại tỵ nạn, mà là cô giáo người Úc, từ Úc tới các trại tỵ nạn để dậy tiếng Anh cho những người dân Tỵ Nạn đang sống ở đó.
Cô giáo người Úc này tên là Jennifer Joy Ramm.

30738581_2084455764905049_7456247403706192697_n
Cô Giáo Jenny đang nhận quà Giáng Sinh do đại diện trại tỵ nạn trao tặng, năm 1982.

Sau ngày Việt Cộng cưỡng chiếm Miền Nam, dân Việt chúng ta đã ào ạt bỏ xứ ra đi tìm Tự Do, vì không thể sống dưới chế độ bạo lực, tù đầy và sự trả thù dã man của bọn Cộng Sản. Cả thế giới dang rộng vòng tay và lòng từ thiện thiết lập những trung tâm tỵ nạn tại các hòn đảo trong vùng Á Châu Thái Bình Dương để chúng ta có nơi tạm trú chờ đi định cư ở các quốc gia khác.

Trong thời gian tạm trú này, đã có rất nhiều thiện nguyện viên nam cũng như nữ, già cũng như trẻ, ở khắp mọi nơi trên thế giới tới các trại tỵ nạn để giúp đỡ chúng ta tìm thân nhân thất lạc cũng như học Anh ngữ. Một trong những người trẻ đó là cô Jennifer Joy Ramm mà các bạn hữu và các học viên thường gọi cô bằng cái tên ngắn gọn và đầy tình thân: “Chị Jenny”.

Jenny là con cả trong một gia đình gốc Anh, sinh sống ở vùng Burra Burri thuộc Tiểu bang Queensland. Đến khi lớn lên, gia đình đã chuyển về Cooroy để cô có thể tiếp tục học bậc trung học ở Noosa.Tốt nghiệp trung học, Jenny được học bổng của chính phủ Liên Bang để tiếp tục học ở Đại Học Queensland.

Sau khi tốt nghiệp văn bằng Cử Nhân Văn Chương tại Queensland, cô đã xuống Melbourne học thêm để lấy chứng chỉ về Giáo Dục tại Đại học La Trobe.

Là thành viên của nhóm người trẻ tình nguyện hoạt động ở ngoại quốc “Australian VolunteersAbroad – AVA”, vào năm 1976, cô Jenny được cử đi dậy Anh ngữ tại một trường trung học ở Mukah, thuộc Malaysia. Với giọng nói nhẹ nhàng, vui tươi và thái độ cởi mở, Cô giáo Jenny đã thu phục được nhân tâm của các học sinh và phụ huynh của Mukah, đến nỗi có gia đình đã đặt tên con của họ là Jenny để ghi nhớ thời gian cô dậy học cho các em học sinh tại đây.

Năm 1979, cô lại được cử đến trại tỵ nạn Ban Vmai ở Thái Lan, để lập ra một chương trình giảng dậy tiếng Anh cho 60.000 người Hmong đang sống ở trại tị nạn này. Để có thể dậy tiếng Anh một cách hữu hiệu, cô đã theo cách thức của các nhà truyền giáo là học tiếng bản địa trước. Jenny đã bỏ ra bốn tháng trời để chuyên tâm học tiếng Thái Hmong cho thật trôi chẩy, rồi sau đó mới dùng chính ngôn ngữ của họ mà dậy tiếng Anh cho họ. Trong vòng hai năm trời, cô đã xây dựng lên một trung tâm giảng dậy với nhiều lớp học, thuê giáo viên địa phương và mua cả một chiếc xe chở hàng nữa.

Với những kinh nghiệm giảng dậy này, vào khoảng cuối năm 1981, cô đã được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc mới đi dậy tiếng Anh cho các Thuyền Nhân Việt Nam tại trại Tỵ Nạn Galang, thuộc Indonesia.

Tại Galang, công vỉệc của Cô Giáo Jenny không chỉ đơn giản là dậy tiếng Anh cho người Việt Nam, cô con phải giúp đỡ họ chuẩn bị cho cuộc sống mới ở các nước Tây Phương, mà ở đó, không những họ chỉ phải đương đầu với sư khác biệt về ngôn ngữ, mà còn cả những khác biệt về phong tục tập quán, cách thức ăn uống và những sinh hoạt hàng ngày nữa. Các học viên của cô, gồm đủ mọi trình độ, đủ mọi lứa tuổi và đủ mọi ý thích. Từ đó, cô Jenny mới chia lớp học ra thành nhiều nhóm khác nhau: Nhóm nhỏ bạo dạn hơn, nói lung tung mà không sợ bị chê là sai, nên học nhớ chữ mau hơn và nói đúng giọng hơn. Nhóm lớn tuổi, trí nhớ kém đi và hay bị mặc cảm nên khó nhớ mặt chữ và giọng đọc cứng hơn. Một nhóm đặc biệt mà chỉ có ở trại tỵ nạn Việt Nam, đó là nhóm trai tráng đã đi lính, bị Việt Cộng bắt đi tù “Cải Tạo” rồi trốn về hoặc được thả về. Nhóm người này đa số biết nói một chút ít tiếng Anh, một số nói rất khá.Họ rất chăm chỉ học và cố gắng nói thật nhiều để cô sửa giọng cho họ.Đối với nhóm cựu quân nhân này và những nhóm lớn tuổi, cách giảng tiếng Anh của cô là kể những câu chuyện về đời sống hàng ngày tại Úc và dậy cho họ những câu đối thoại cần thiết.

Theo kinh nghiệm dậy học cho người Hmong, ngoài giờ dậy học, Jenny thường hay tới thăm viếng những láng trại của người Việt tỵ nạn để nói chuyện với họ, tìm hiểu cách thức sinh sống của họ và nhất là . . . học tiếng Việt bằng cách . . . nói tiếng Anh với người Việt. Từ những buổi tiếp xúc này mà cô giáo Jenny quen biết rất nhiều bạn bè và biết ăn cơm, biết cầm đũa. Một cô thợ may đã đo và may tặng cho Jenny một chiếc áo dài, cô mặc thử, thấy đẹp quá, về thư viện, cô đã tìm sách đọc thêm, và sau khi biết chíêc áo này được coi là quốc phục của người Việt Nam, cô đã khuyến khích các cô gái Việt trên đảo giữ truyền thống áo dài của mình bằng cách . . . tổ chức một cuộc thi áo dài ngay trên đảo tỵ nạn.

30729294_2084458361571456_7752746128672746016_n
Cô Giáo Tỵ Nạn tổ chức thi Hoa Hậu Áo Dài mừng xuân Quý Hợi 1983 tại trại tỵ nạn Galang.

Trong một buổi giảng dậy, cô giáo Jenny để ý thấy có một cậu trai luôn luôn lảng vảng phía ngoài lớp học, nhưng không bao giờ vào dự lớp học của cô.Nghĩ rằng anh này có thể . . . còn ngại ngùng gì đó, nên cô giáo đã đích thân ra mời anh vô lớp để học cho vui, nhưng anh mắc cở đỏ mặt chạy đi nơi khác.Một lúc sau, anh ta lại quay trở lại, nhưng cũng vẫn đứng ở ngoài lớp học chứ không vô trong lớp.Lâu dần, cô không thắc mắc nữa, mà chỉ giảng và đọc lớn hơn để người đứng ở ngoài có thể nghe rõ hơn mà thôi.

Đến năm 1983, cô giáo Jenny trở về lại Melbourne, tiếp tục dậy tiếng Anh tại Trung Tâm Anh Ngữ Cho Những Người Di Dân Lớn Tuổi (Adult Migrant English Service-AMES), tại đây, Jenny cũng vẫn giúp đỡ người dân tỵ nạn Việt Nam bằng cách khuyến khích họ làm những công việc mà họ có khả năng từ hồi ở Việt Nam, và dậy họ nói Tiếng Anh về chính ngành nghề họ có thể làm, muốn làm và đang làm. Cô giáo Jenny thành công ở chỗ, cô có thể nói tiếng Việt, hiểu tiếng Việt, để nghe người Việt nói ra những điều họ muốn biết, muốn học, do đó đã giúp người Việt có hứng thú khi học tiếng Anh và vì thế mà họ học mau hơn, tiến bộ hơn. Jenny lại có sáng kiến tổ chức những buổi barbecue tại nhà của mình, mới các bạn trẻ người Úc và người tỵ nạn Việt Nam cùng tham dự, để cả hai bên hiểu rõ nhau hơn và nhất là để các bạn trẻ người Việt có cơ hội nói chuyện, trau dồi khả năng Anh ngữ của mình. Nhiều cô giáo đã rất ngại ngùng phải dậy học cho đám trẻ thiếu niên đi tỵ nạn một mình, vì các em . . . khó dậy, không chịu tiếp xúc . . . Riêng đối với Jenny, cô không thấy có gì trở ngại cả, vì cô hiểu tâm tình của đám trẻ này, cứ để cho các em tâm sự với cô về những khó khăn của cuộc sống, cô nhờ nhân viên xã hội giải quyết những điều các em mong muốn, rồi sau đó mới dậy học cho các em nhỏ này. Việc quan trọng nhất mà Jenny muốn hướng dẫn họ là, nên đi học trở lại để có kiến thức và có một tương lai tốt đẹp hơn.

Cũng vì tình thân với người Việt, đã có nhiều người mời Jenny dự đám cưới của họ, và cô rất vui khi được mặc áo dài để bưng mâm ngũ quả đi rước dâu.
Gia Đình hạnh phúc.

Trong một buổi barbecue mời tất cả các . . . cư dân của đảo Galang, cô giáo Jenny lại gặp lại người thanh niên thường hay lảng vảng ngoài lớp học của cô hồi còn ở trại tỵ nạn. Anh chàng cũng vẫn đứng một mình, tay cầm lon coca xoay qua xoay lại chứ không bắt chuyện với ai. Cô giáo Jenny nghĩ rằng anh này chắc . . . không biết tiếng Anh, hoặc là ít nói, nên đã tới nói chuyện với anh ta.Anh vui vẻ nói chuyện, tự giới thiệu tên là Sơn, hiện đang làm việc cho Australia Post, tại Blackburn Mail Centre. Cô Jenny rất là ngạc nhiên khi biết anh . . . biết nói tiếng Anh, và lại nói khá nữa:
“Ah! Vì anh biết nói tiếng Anh rồi, nên mới không tham dự lớp học của tôi ở trại tỵ nạn, có phải vậy không?”
Lại trái với dự đoán của Jenny khi anh con trai trả lời:
“Không phải vậy. Hồi đó, quả thực tôi dở tiếng Anh lắm. Vì tình trạng chiến tranh, tôi chỉ mới học hết lớp 11 mà thôi. Đến khi Việt Cộng chiếm miền Nam, tôi là con Lính Cộng Hòa nên đâu có được tiếp tục học nữa, tôi phải đi bán hàng với mẹ để kiếm sống cho gia đình, bao nhiêu tiếng Anh tôi học ở trường, tôi quên hết trơn, nên tôi đâu có biết học từ đâu? Thấy cô dậy học, tôi cũng muốn vô học, nhưng thấy mình lớn rồi, vô học không biết một câu tiếng Anh tiếng U nào hết . . . mắc cở với đám con nít lắm . . . nên tôi chỉ đứng ngoài nghe lén mà thôi. Hơn nữa, cô nói tiếng Anh của người Úc . . . khó nghe quá, tôi nghe như là . . . vịt nghe sấm . . . chẳng hiểu cô nói gì hết, thì làm sao mà học?”
Cô giáo Jenny lúc nào cũng có thói quen nghề nghiệp, cô khuyến khích Sơn:
-“Anh nói tiếng Anh hay lắm, lại được làm ở Australia Post thì đời sống cũng khá lắm rồi . . . nhưng nếu anh muốn, anh có thể đi học lại, vô đại học học nghành nào mà anh thích, biết đâu lại có tương lai sáng sủa hơn!”
-“Tôi cũng muốn lắm, nhưng tôi . . . mới học xong lớp 11 chứ chưa tốt nghiệp trung học, làm sao tôi có thể vô đại học được?Hơn nữa, tiếng Anh của tôi chỉ đủ để làm việc thôi, chứ chưa đủ để học đại học đâu.”
-“Anh đừng lo, tôi có thể giúp anh về phần tiếng Anh, anh sẽ dư sức học. Ở Úc có những trường cao đẳng, gọi là trường TAFE (Technical And Further Education) dành cho những người chưa học xong trung học, tôi sẽ giới thiệu anh với chú tôi, một giáo sư của trường Footscray Institute of Technology (FIT- sau này nhập chung với trường Đại học Victoria University) để chú giải thích cho anh nhiều hơn.”

Khi về nhà, anh Sơn mới kể lại câu chuyện cho người bạn cùng phòng là anh Lê Hữu Giàu nghe.Anh Giàu cũng khuyên anh Sơn nên đi học để có tương lai khá hơn.

Thế là anh Sơn đi gặp Giáo sư Douglas Ramm để vấn kế. Ông Douglas làm đúng luật, đã đưa đơn cho anh điền để học thử ba môn học về Civil Engineering xem kết quả ra sao cái đã. May mắn, anh đậu hết cả ba môn toán học này, ông Douglas liền hướng dẫn anh một lần nữa nộp đơn xin học khóa Bachelor of Civil Engineering.

Thực sự thì Sơn chưa muốn hoàn toàn định cư ở bên Úc, đầu óc của anh vẫn còn hướng về Việt Nam: Khi Sơn còn ở trên đảo Galang, anh đã có nghe về Phong Trào Phục Quốc của Tướng Hoàng Cơ Minh, Sơn định cư tại Úc đúng vào thời điểm Phong Trào Phản Chiến bộc phát rất lớn, Sơn nhớ lời cha dặn là ráng tìm cách gia nhập bất cứ tổ chức kháng chiến nào, để trở về Việt Nam tiêu diệt bọn Cộng Sản, khôi phục lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa thân yêu tràn đầy tự do và lòng nhân ái. Do đó, khi được chấp nhận cho học, Sơn phân vân không biết nên lựa chọn con đường nào? Anh đem việc này ra bàn với Jenny.Tiếc thay, cô giáo Jenny chỉ có thể giúp anh trau dồi Anh ngữ thôi, chứ không có khả năng giúp anh về vấn đề này, nên Sơn quyết định không nộp đơn xin học, mà chờ tin để trở về Việt Nam cùng với các bạn bè trong nhóm.

Buồn thay, tổ chức phục quốc càng ngày càng im tiếng và không có ai liên lạc với anh để nói tới ngày về cả. Sơn đành phải nộp đơn xin đi học và bảo lãnh cha mẹ qua Úc chung sống.

Muốn tỏ tình với một cô gái đã là chuyện khó rồi, huống chi cô gái này lại còn là cô giáo dậy tiếng Anh nữa, công việc càng trở nên phức tạp và . . . khó khăn hơn.

Một lần đến nhà Jenny ăn cơm tối, Sơn đem theo cây đàn hát tặng Jenny bản nhạc “Nắng Chiều”:
“. . . Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà
Gợn buồn nhìn em anh nói: “Mến em!”
Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi
Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi . . .”
(Nhạc Lê Trọng Nguyễn)
Hát xong bản nhạc, Sơn đã hỏi Jenny bằng tiếng Việt:
“Jenny à . . . nếu tôi muốn nói . . . anh yêu em . . . bằng tiếng Anh, thì . . . làm cách nào để nói?”
Jenny thích bản nhạc Nắng Chiêu quá, đang lo hát theo, nên không biết mánh của Sơn, cô ngây thơ trả lời:
“Thì nói . . . I love you . . . dễ mà.”
Thế là Sơn vừa khẩy đàn vừa nhìn Jenny mà hát câu hát để đời:
“I love you . . . I love you . . . and I love you . . .”
Sơn hát đến lần thứ ba thì Jenny mới hiểu, cô đỏ mặt hỏi lại Sơn bằng . . . tiếng Anh:
“Are you serious?”
Sơn lại trả lời bằng . . . tiếng Việt:
“Anh nói thiệt mà!”.

Sơn tốt nghiệp thủ khoa khóa Civil Engineer của FIT vào năm 1990.Một tháng sau khi cha mẹ Sơn qua định cư ở bên Úc, Jenny và Sơn làm đám cưới. Jenny rành đủ sáu câu về đám cưới Việt Nam, nên cô đòi đủ thứ . . . nào là áo cưới cô dâu, vương miện, bông tai, dây chuyền vàng, ngũ quả, heo sữa và pháo nổ . . . thậm chí cả phong bao lì xì cho đám con nít giữ cửa ở nhà gái khi rước dâu cũng phải có đầy đủ.

Ba Mẹ của chàng rể Sơn mới từ Việt Nam qua, nghe đằng nhà gái nói tiếng Anh líu lo cứ như là chim hót, chẳng biết người ta nói cái gì, nhưng cũng biết đó là những lời chúc tụng cho cô dâu chú rể.Khi mẹ chồng được mời ra đeo dây chuyền cho cô dâu, thiếu điều bà phải bắc ghế đứng lên mới quàng dây chuyền qua cổ cô dâu Tây được. Đằng nhà gái lần đầu tiên nhìn thấy cô dâu và đám phù dâu mặc áo dài thật là đẹp, thấy người nhà bưng các khay đựng đủ thứ bánh trái, rồi lại được nghe pháo nổ đì đùng khói bay khét lẹt . . . thật là vui . . . vui quá xá là vui.

Vì tốt nghiệp ưu hạng, Sơn được học bổng của chính phủ để học Master, nhưng việc đầu tiên của người chồng và người con là phải lo làm ăn kiếm tiền lo cho gia đình và phụng dưỡng cha mẹ, nên Sơn đã từ chối học bổng để đi làm với công ty xây cất John Holland, và được cử đi làm việc ở Kuching, Mã Lai.

Đứa con gái đầu lòng tên Lanna của hai vợ chồng ra đời vào tháng 4 năm 1993, chỉ một tháng sau là Jenny đã được hưởng Mother day lần đầu tiên trong đời.
Cô gọi điện thoại về Úc chúc mừng mẹ:
“Chúc mẹ một ngày “Mother day” vui vẻ . . . và cũng một ngày “Mother Day” vui vẻ cho chính con nữa . . . vì con cũng đã là mẹ của bé Lana rồi.”

Đến năm 1995, em trai của Lana cũng đã chào đời, được ba mẹ đặt tên là Liam (Từ khi Jenny mới bắt đầu mang bầu, hai vợ chồng đã bàn tính suốt chín tháng trời để tìm cách đặt tên cho con, những cái tên nào vừa có sắc thái của Vương Quốc Anh, lại vừa vẫn có vẻ là một cái tên Việt Nam. Lana cũng có nghĩa là Lan và Liam cũng có thể đọc là Liêm.Ông Bà Nội cũng đọc tên các cháu được, mà Ông Bà Ngoại cũng cảm thấy happy khi gọi tên hai đứa cháu của mình.)

Khi các con đã lớn, và cha mẹ đã có phần già yếu, Sơn và Jenny quyết định xin trở về Úc làm việc. Lana thi đậu vào trườngMac Roberson và tốt nghiệp VCA với số điểm ưu hạng 99.30 nhưng cháu lại không muốn học Y, Nha, Luật . . . mà chỉ muốn theo gót của mẹ, học Art ở Melbourne University, thời giờ rảnh thì cháu . . . đi làm việc thiện nguyện. Còn Liam thì học IT ở RMIT University với ước mơ trở thành . . . tài tử đóng phim, trong khi Jenny thì đi dậy trở lại ở VUT – Victoria University of Technology.

Lana và Liam được mẹ cho biết gốc gác của mình là . . . dân tỵ nạn Việt Nam, vượt biên tới đảo và được định cư ở Úc, nên lâu lâu, hai chị em đùa dỡn với nhau, Liam đóng vai Việt Nam, nói với chị:
“Tôi là . . . Vietnamese Boat people . . . tôi không biết nói tiếng Anh . . .”
Lana đóng vai cô giáo, nghiêm trang trả lời:
“If you be good . . . I will teach you how to speak English . . .”
Jenny và Sơn nhìn nhau cười.

Vào khoảng tháng Ba Năm 2011,trận bão Yasi đã tàn phá hầu hết những trang trại trồng chuối ở Queensland, giá bán chuối ở các siêu thị vọt lên tới con số kỷ lục là $14.00 một Ký, có nơi còn không có chuối để mà bán.
Sáng sớm ngày Mother’ Day năm 2011, ba cha con mặc quần áo đẹp đẽ, trịnh trọng lái xe đi chợ, khệ nệ đem một gói quà thật lớn đưa tặng cho mẹ. Hai chị em cùng la lớn:
“Happy Mother’ Day my dear Mummy”.
Jenny mở gói quà ra: Một nải chuối với năm trái chín vàng óng ánh.
Jenny sung sướng cười thật tươi, nhưng vẫn cự nự chồng:
“Chuối mắc lắm, anh mua làm chi cho tốn tiền.”
Lana và Liam lại đồng thanh nói:
“Chúng con có tiền . . . chúng con mua tặng mẹ.”
Phần của Sơn là một bó hoa đỏ thắm đưa tặng vợ.

Jenny bị cancer ruột từ năm 2006, coi như đã lành bệnh sau nhiều ca mổ, nhưng đến cuối năm 2011 thì bệnh của cô lại tái phát, qua những vết sẹo còn lại của những ca mổ trước đây. Sơn nghỉ làm suốt ngày luẩn quẩn tại bệnh viện St. Vincent lo chăm sóc cho Jenny. Nhà thương thấy vậy, cho Sơn mướn luôn một phòng để ăn ngủ tại chỗ cùng với vợ.
Những ngày cuối của cuộc đời, hai đứa con cũng nghỉ học để ở bên cạnh mẹ.
Lana và Liam nắm tay mẹ mà nói:
“Mẹ sẽ khỏe lại mà . . . Mother’s Day năm tới chúng con sẽ lại mua chuối cho mẹ ăn nữa nha.”
Sơn so lại phím đàn, hát cho Jenny nghe bản nhạc “Bên Kia Sông”:
“. . . Này người yêu, người yêu anh ơi!
Bên kia sông là ánh mặt trời
Này người yêu, người yêu anh hỡi!
Bên kia đồi, cỏ hoa đan lối
Bên kia núi, núi cao chập chùng
Bên kia suối, suối reo lạnh lùng
Là bài thơ, toàn chữ hư vô . . .”
(Nhạc của Nguyễn Đức Quang.)

Cô Giáo Tỵ Nạn Jenny Ramm ra đi vào ngày 10 01 2012 với tuổi đời 58 còn rất trẻ trung, để lại chồng và hai đứa con.
Từ bốn phương trời, những người dân Việt tỵ nạn ở đảo Galang trước đây đã được cô giáo Jenny dậy học tiếng Anh đã gởi thơ chia buồn đến cho gia đình:
“Jenny . . . chúc chị ra đi bình yên . . . Tên của chị, hình bóng của chị, tiếng Anh của chị dậy . . . sẽ không bao giờ phai nhòa trong trí óc chúng tôi . . .”

Cô Giáo Tỵ Nạn Jennifer Joy Ramm, đã đem tất cả lòng nhiệt thành và tuổi trẻ của mình ra để phục vụ người tỵ nạn khắp bốn phương trời, nhất là người tỵ nạn Việt Nam
CÔ DÂU CỦA NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN . . . LÀ NHƯ THẾ ĐẤY.

Nguyễn Khắp Nơi
(Viết theo lời kể của anh Nguyễn Sơn và các con.)

Ngày mùng 2 Tết Mậu Thân – Uyên Di

 

“Tôi đang đẻ đứa con đầu lòng, đó là ngày mùng 2 Tết Mậu Thân. Nó (Việt+) đẩy cửa vô nhà tôi, thấy máu me đầy. Mẹ tôi kêu van xin tha chết. Nó bỏ đi. Chồng tôi vì thế mà thoát nạn. Con gái tôi năm nay đúng 50 tuổi”.

Tôi đã gặp cụ bà và nghe câu chuyện của cụ hôm qua cùng với những mẫu chuyện khác. Có một bác ngồi gần tôi với cô cháu gái còn trẻ khoảng 30 tuổi, bác liên tục thì thầm giải thích cho cô cháu gái hiểu nội dung các bài hát đang được trình bài trên sân khấu.

Nhiều nước mắt quanh tôi.

Tôi tưởng sau 50 năm, lại ở nước ngoài thì không còn mấy người là nhân chứng của cuộc thảm sát tại Huế, nỗi đau sau 50 năm chắc cũng nguôi ngoai nhiều.

Tôi sai.

Có nhiều người vừa làm đám giỗ của người thân cuối tuần này. Ngày người thân chết, họ không biết.

Cuộc Tổng Tấn Công và Nỗi Dậy Xuân Mậu Thân 1968 của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam còn gọi là Việt Cộng đã được ông Hồ Chí Minh lên kế hoạch với Bộ Chính Trị Bắc Việt từ hồi tháng 05/06 năm 1967. Lên kế hoạch đâu đó đàng hoàng, bác ta đi ký hiệp ước với bên VN Cộng Hoà đồng ý ngưng chiến cho nhân dân đón Tết. Sau khi lật gọng lời hứa, ra lệnh tổng tấn công bác ta bay sang Bắc Kinh nghỉ mát… Chưa có một cuộc thảm sát nào trong lịch sử VN mà nó tàn bạo và dã man như cuộc tấn công lật gọng của Việt Cộng năm 1968.

Cuộc tàn sát được thực hiện bởi những người cùng dân tộc. Cái tên chủ mưu thì bay qua Tàu ngồi run đùi.

Có nghiên cứu nói rằng từ thập niên 1960 ông HCM và Võ Nguyên Giáp đã ra rìa. Người chủ mưu cuộc chiến này chính là Lê Duẩn. Ông này có câu nói để đời “ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Cộng”.

Sự thật nào thì cuộc chiến 1968 cũng quá dã man và tráo trở!

Mặc dù bị lật gọng bất ngờ trong trận chiến đợt 1 nhưng bên VNCH và đồng minh là Hoa Kỳ đã đánh trả một cách quyết liệt trên hơn 100 địa điểm tấn công của Việt Cộng khắp cõi miền Nam. Việt Cộng nằm vùng và Việt Cộng từ rừng về đã bị đánh bật gốc chỉ trong 2 tháng.

Có những người đã vượt biên thoát khỏi Cộng Sản, họ không còn mơ ngày đặt chân về lại chốn quê hương, họ không ngại khi làm những công việc cần làm.

Từng lời giới thiệu các bài hát của MC Quốc Việt là từng lời đanh thép nhắc nhở đến tội ác giết hại đồng bào của người Cộng Sản. Từng bài hát được viết bởi thế hệ nhân chứng và được hát lại bởi thế hệ tìm hiểu đã làm hơn 450 đồng bào khán giả phải nghĩ lại thân phận người Việt Nam chúng ta.

Tôi đến đấy chỉ mong rằng mình làm người đưa những giây phút của phần nào chương trình văn nghệ đặc biệt này ra ngoài khung viên hội trường, đến được với những người xa.

Xin hãy coi lại những livestreams tôi đã làm hôm qua. Xin cảm ơn ban tổ chức của chương trình văn nghệ này! Xin cảm ơn tất cả những ai đã đóng góp để những người như tôi có cơ hội nhìn lại một chặng đường lịch sử của VN qua những bài hát đầy chất nhân bản của người niềm Nam.

Việt Cộng thống trị quê hương VN nhưng VNCH vẫn đang ngự trị trong lòng người VN với những bài hát nhân bản bất hũ với thời gian.29103985_10210062300588976_706914216346386432_n

https://www.facebook.com/uyen.di/videos/10210054537394901/

https://www.facebook.com/uyen.di/videos/10210054666678133/

https://www.facebook.com/uyen.di/videos/10210054863163045/

https://www.facebook.com/uyen.di/videos/10210054997246397/

13.03.2018

Uyên Di

CUỘC TÌNH GẦY ! ALAIN BẢO

Nàng có một thân hình thật tuyệt vời, một nụ cười duyên dáng với hàng răng đều đặn, với một trang phục thật bình dị, nhưng không giấu được vẻ đẹp cao quý, của một người phụ nữ lý tưởng.

Nàng thoáng qua đời tôi như một cơn gió vào hạ, một cuộc tình gầy lang thang, tôi như ghé răng cắn vào vị ngọt tình yêu miếng môi ngọt đắng, đêm ngày trăn trở vì nhau.

Ngày tôi và nàng chia tay, cũng là ngày tôi ngậm đắng nuốt cay, uống vội tình người thay trắng đổi đen, lời nào gian dối, cho mãi nữa cuộc đời còn lại.

Nàng lạnh lùng kiêu hãnh bước vội sang sông, sau tai nạn lật xe chết người của tôi trên xa lộ. Tôi mệt mõi và đau đớn nằm oằn oại giữa bốn bức tường trắng, thoảng mùi thuốc mê bệnh viện. Nàng nhởn nhơ tung tăng bên người yêu mới, không một lời thăm hỏi, dù là một lời gian dối để an ủi.

Nàng bước vội đi, không một lời nhắn nhũ vô tình, nàng chỉ muốn lấy lại tất cả, tất cả những niềm đau và nỗi buồn, những đêm thức trắng mệt mõi để gầy dựng tương lai cho tôi và nàng.

Nàng đến với người tình mới, cũng trong một hình dáng bề ngoài lịch lãm lý tưởng mà tôi đã lầm cách đây ba năm.

Nàng muốn lấy tất cả những gì của tôi tạo dựng, phải thuộc tất cả về nàng. Nàng là vậy,trở thành mù quáng khi yêu, sáng suốt khi hận. Thời gian ngắn ngủi ba năm cũng làm tôi hiểu rất rõ con người nàng, cuộc tình giữa tôi và nàng kết thúc dưới bóng gầy xơ xác của tình phụ và phụ tình.

Giờ đây không có nàng, tôi cảm thấy nhẹ nhàng và thanh thản, cuộc tình ba năm lận đận đã khiến tôi im lặng và càng sống lặng lẽ, ít nói hơn xưa.

Tôi thọc tay vào túi quần jean và bước dọc theo hai hàng cây, nắng hạ chậm rãi len lõi vào những sợi tóc bụi đời, đen bạc, trên khuôn mặt phong trần cuối đời của tôi.

Tôi lẫm nhẫm hát khe khẻ, và ngồi xuống một gốc cây thật to sát bên thư viện:

“Một mai xa nhau, xin nhớ cho nhau nụ cười…..đừng hận nhau nữa…Một mai em đi ngày tháng bơ vơ giận hờn, nhớ về tình người..buồn như con nước đã vơi..lời nào gian dối để người đã lỡ cuộc tình…” Trường Sa

Tôi lật cuốn nhật ký…viết vội

Rồi mai tôi xa em trong kỷ niệm…cuộc tình gầy giữa tôi và nàng đứt bóng sẽ là một chút gì để nhớ để thương để giận để hờn trong những năm còn lại cuộc đời tôi.

Alain Bảo

08/31/2017

Las Vegas, USA

Blog at WordPress.com.

Up ↑