Chuyện chàng trai ngoài 20 tuổi… (Truyện ngắn có thật)

Có khi nào trong những chiều lái xe về từ chỗ làm, đường phố đã nhá nhem tối, trời lạnh, bạn tự hỏi “tại sao ta ở chốn này?”, “những mảnh đời VN đang lưu lạc trên những miền đất xa xứ khác, sống một cuộc đời ra sao?” 40813263_10211077850817097_2059927372416679936_n

Từ khi biết câu chuyện tình ấy, hình ảnh gia đình họ cứ lảng vãng mãi trong đầu tôi. “Tại sao có những cuộc tình đẹp như vậy? Tại sao có những trái tim âm ỉ lửa tình yêu cho quê hương bền vững như vậy?” Đoạn kết của họ sẽ ra sao? Cuối cùng tình yêu có khả năng được trái tim chọn lựa hoặc được điều khiển bởi lý trí hay không?

Đã có những buổi chiều tôi như trôi theo luồng xe trên đường, dù được sưởi trong xe ấm áp, dù radio đang mở lên để hầu bắt kịp tin tức trong ngày nhưng đầu óc tôi đang ở một nơi xa xôi. Nơi ấy tôi không mơ ước được đến vì nó gần VN quá, đến đấy mà không vào được VN thì như tự khơi dậy nỗi đau, nỗi nhớ nhung cho mình… Nơi ấy có một người đàn ông…

…Người đàn ông ấy khoảng 40 tuổi nằm trong khu phòng đầy bệnh nhân của nhà thương Đồng Nai, tay anh bị còng vào thành giường. Mấy tuần nay người ta xì xầm về anh, có người nhìn anh bằng ánh mắt thương cảm, có người nhìn anh bằng ánh mắt sợ sệt và xa lánh. Trong những cơn mê sốt đôi khi anh cảm nhận được đôi bàn tay dịu dàng của ai đó đang nhẹ nhàng chăm sóc anh….

Cuộc tình một tù nhân lương tâm của các trại tù Z30 Xuân Lộc, Z20 Xuân Phước với người phụ nữ ấy bắt đầu từ những ngày tháng đó…

Anh được đưa trở lại trại tù Z30, sau khi bệnh tình của anh có phần thuyên giảm. Anh bị giam cầm thêm 5 tháng nữa trước khi được trả tự do.

Ngày cánh cửa nhà tù mở rộng, anh bước ra với tư cách một người tự do trong một đất nước bị giam cầm, người đàn bà có đôi tay dịu dàng đứng đợi anh ở cồng trại giam…

Người tù nhân lương tâm đã chôn hơn 20 năm tuổi thanh xuân trong trại tù cộng sản. Anh bị bắt tháng 7 năm 1977, lúc còn là chàng trai hơn 20 tuổi đời tràn đầy sức sống, tràn đầy lý tưởng cho quê hương. Từ cửa trại tù Xuân Lộc năm 1997 bước ra là một người đàn ông trung niên hoàn toàn trắng tay, 20 năm sống đời tù, thế giới bình thường đã quá xa lạ đối với anh…

Tôi có quen một cô bạn đầy cá tính xinh đẹp, mãi đến gần 30 tuổi vẫn chưa có người yêu. Hỏi tại sao? Nàng thẳng thắng trả lời “đàn ông VN không có lý tưởng nên chẳng chọn được thằng nào!”…

Có những người đàn bà như thế!

Người đàn ông trung niên kia gia tài chỉ có vài bộ đồ cũ hoặc chăng cũng chẳng có gì và người đàn bà không còn trẻ đưa nhau về tạo dựng tổ ấm. Có lẽ vợ anh thuộc mẫu người đàn bà như cô bạn của tôi, nên chấp nhận kết hôn với một người đàn ông chẳng có tương lai, sẽ luôn bị chính quyền dòm ngó theo dõi và trù dập. Chị chỉ biết rằng gia tài duy nhất của anh là một trái tim âm ỉ lửa cho quê hương. Có lẽ đối với chị ấy như vậy là đủ hạnh phúc…

Cuộc sống “tự do” trong một xã hội bình thường sau 20 bị giam cầm đã là khó, để tồn tại được trong một xã hội mà phần nhiều giá trị quan trọng đã bị đảo lộn chắc phải là một thử thách lớn đối với anh. Dù vậy, nước chảy thì lá cũng phải trôi theo…

Năm đứa con trai của anh gần 11 tuổi, anh lại theo tiếng gọi của con tim đi thăm viếng gia đình của những tù nhân lương tâm. Anh kể các cán bộ cộng sản đã hứa hẹn sẽ giúp anh tạo dựng một gia đình đầy đủ vật chất nếu anh chấp nhận tồn tại như một người không tim, không óc, không còn quan tâm đến những sự đàn áp mà các tù nhân lương tâm đang hứng chịu từng ngày. Anh kể:

– Lúc đó tôi thiếu thốn nhiều lắm nhưng làm sao quay lưng được với những người từng là bạn của tôi? Họ từng là những tù nhân lương tâm như tôi…

Ở VN, nếu bạn chỉ tồn tại như những sinh vật chỉ biết sống còn thì có lẽ dù nghèo, dù cực cũng không đến nỗi phải ăn cỏ như người dân Bắc Hàn, không phải ngủ khổ như cư dân ở Calcutta, nhưng nếu bạn làm người sống bằng con tim và lương tri của mình thì câu chuyện lại khác, đầy khó khăn…

Anh bị săn đuổi…

Gia đình nhỏ của anh dìu dắt nhau tìm đường vượt biên qua đất Thái. Cuộc sống trên quê hương đã khó khăn, qua Thái lạ đất, lạ tiếng, tôi không tưởng tượng được nó sẽ khó khăn, thử thách như thế nào?

Bạn có biết hơn nửa triệu đồng bào đã chết trên đường vượt biên tìm tự do? Họ đã bỏ mình vì cách này hay cách khác. Tôi đã nghe nhiều câu chuyện kể nỗi cả da gà từ những nhân chứng sống…

Người đàn bà của anh sức khỏe đã không tốt, trong hoàn cảnh sống quá khó khăn từ vật chất đến tinh thần nàng đã lâm trọng bệnh và qua đời…Chị để lại con trai nhỏ dại cho anh trên đất khách…

Con trai anh, cháu Long Phi lúc rời VN chỉ 11 tuổi, ngày trở về quê hương để giỗ mẹ đã là một chàng trai ngoài 20. Chàng trai ngoài 20 tuổi lưu lạc nơi xứ người, được nuôi dưỡng bởi ngọn lửa yêu quê hương dân tộc. Ngày trở về chàng trai ngoài 20 tuổi đã tham gia trong dòng người biểu tình chống luật Đặc Khu, ngày lịch sử Xuống Đường của người dân VN 10.06.2018. Trong dòng người ấy, chàng trai ngoài 20 tuổi bị bắt cùng với những chàng trai ngoài 20 tuổi khác. Will Nguyễn cũng bị bắt.

Cái mạng của những người trẻ ngoài 20 tuổi công dân Việt Nam nó rẻ mạt, ít được ai đoái hoài tới. Cái mạng của những kẻ đã bỏ nước ra đi vì bị truy đuổi từ đời cha dưới chế độ tàn quyền Cộng Sản thì có là ra gì?

Chàng trai ngoài 20 tuổi tên Trần Long Phi con ông Trần Văn Long là có thật. Có thể nào cũng như cha, chàng trai ngoài 20 tuổi này sẽ chôn trọn xuân xanh trong những nhà tù giam cầm người yêu nước như cha chàng đã từng? Có thể nào những người trẻ dám sống với lý tưởng cho quê hương dân tộc sẽ phải chết dần vì họ chưa được nhiều người biết đến để quan tâm?

Tôi viết những dòng này mỗi ngày một ít vì trong thế giới của tôi cũng lắm điều, nhiều chuyện. Ngày hôm nay gia đình em Trần Long Phi sẽ được phép vào tù thăm em…tôi chạnh lòng nghĩ đến người cha hiu quạnh của em đang bên đất Thái, không thể về thăm em được, vì về đồng nghĩa với sự chọn lựa chết mòn một lần nữa trong nhà tù Cộng Sản…

Bao nhiêu nữa thế hệ sẽ phải còn trả giá cho tình yêu quê hương của mình? Xin hãy tìm sự cứu cánh trong chính con tim của bạn.

Viết cho em…
05.09.2018

Uyên Di

Giới Thiệu: Tuyễn Tập Truyện Ngắn – Nước Mắt Mùa Đông – Tác Giả Alain Bảo Phán

Quí anh chị em có thể ủng hộ sách bằng cách vào trang web www.nuocmatmuadong.com, số lượng sách giới hạn – sẽ ký tên và viết tặng bạn bè thân nhân làm kỷ niệm. Sau khi lấy lại Vốn và công – Profit sẽ tặng lại cho 1 Bệnh Viện Mỹ và UNLV (University of Nevada Las Vegas) Library.
Xin chân thành cám ơn quí anh chị em bạn hữu gần xa.

Lời Mở Đầu

Tập truyện nhỏ “Tuyển tập truyện ngắn: Nước Mắt Mùa Đông”, thu lượm từ những bài học ngàn vàng và kinh nghiệm quý giá của cuộc sống, cũng như những mẫu chuyện nhỏ xảy ra dọc đường đời, tất cả hoàn toàn dựa trên sự thật. Mong rằng đọc giả tiếp nhận, và coi như là những hạt bụi tâm sự thoáng qua bên đời, của một người Việt Nam viễn xứ lạc loài trên đất lạ quê người. Tác giả cũng xin trân trọng cảm tạ bạn bè, bà con, đồng hương gần xa đã đồng hành, giúp đỡ, chia xẻ ngọt bùi để tập sách ra đời. Hy vọng tập sách ngắn gọn này, sẽ phần nào phản ánh được một phần góc cạnh của mỗi cá nhân người Việt trong và ngoài nước.

Las Vegas – 02 tháng 7 năm 2018

Alain Bảo Phán

Nhà Văn Trần Trung Đạo:

Dường như mỗi người Việt Nam tỵ nạn chính trị ở nước ngoài đều có nhiều điều để kể mà không cần phải hư cấu, tưởng tượng hay hình dung gì cả.

Tuyển tập truyện ngắn của Bảo Phán là một ví dụ điển hình. Mặc dù chia thành nhiều chương nhưng các chương có thể đọc một cách riêng rẽ, độc lập như những mẫu chuyện rời trải suốt trên chặng đường dài của hành trình tỵ nạn …

Bảo Phán không phải là nhà văn chuyên nghiệp hay là một cây bút thường xuyên nhưng có lẽ nhờ thế nên văn của anh rất tự nhiên, chân thành và hy vọng sẽ làm độc giả hài lòng …

Cựu Đại Úy Không Quân Vĩnh Hiếu:

“Tuyễn Tập Truyện Ngắn Nước Mắt Mùa Đông” là một mớ ký ức góp nhặt của Bảo Phán trong những năm tháng xa quê hương lưu lạc xứ người. Những bài viết biểu lộ bản chất tình cảm của tác giả qua giọng văn đơn giản, nhẹ nhàng,nhưng đong đầy tình cảm của một con người nghệ sĩ …

Đọc qua ta có thể thoáng thấy được con người của Bảo Phán, một con người yêu nước, yêu quê hương thể hiện qua một nội tâm khắc khoải, ưu tư về cuộc sống, ưu tư về số phận của quê hương xứ sở đã bị đổi thay, dân tộc bị dày xéo qua biến cố 75 …

Độc Giả Kim Hoa :

… Anh chỉ là 1 cây bút nghiệp dư hải ngoại, thật ra công việc chính của anh ta là toán thống kê tại 1 trường đại học tại Mỹ và là 1 người rất đam mê & giỏi âm nhạc. Có lẽ chính vì sự tổng hợp của những tố chất khác biệt đó, nên cách viết của anh rất gọn gàng, rõ ràng & đi thẳng vào những điều mà anh muốn diễn đạt như 1 mathematician giải 1 bài toán học vậy. Tuy nhiên tôi lại không cảm thấy văn của anh bị khô khan mà thay vào đó là sự thoải mái đến từ 1 cảm giác rất gần gũi với các nhân vật & diễn tiến trong truyện. Có lẽ vì những gì anh viết rất tương tự với những gì tôi vẫn nghe & thấy trong đời sống hàng ngày mà vì sự bận rộn của cuộc sống, tôi đã vô tình bỏ qua nên không thấy được chiều sâu & nét đẹp của những điều bình thường ấy. Chính điều này đã tạo ra một sự thu hút rất tự nhiên & cũng để lại trong tôi những cảm xúc khó quên sau khi đọc truyên của anh …

Xuân Thảo:

Tôi đang bước thật nhanh vào nhà để tránh cái nắng như thiêu đốt của Cali mùa hè bỗng ông xã chìa ra một bưu kiện màu vàng và bảo “của BP” . Mở nhanh bưu kiện, một lá thư 2 trang giấy và một cuốn sách rơi ra. Trong thư BP nhắc đến một lời hứa 3 năm trước là sẽ gửi tặng vợ chồng tôi một cuốn sách đầu tay của BP khi nào nó được xuất bản. Những tưởng chỉ là một lời nói đùa nên lời hứa đó tôi đã quên bẳng từ lâu. Vậy mà hôm nay trong tay tôi đang cầm “đứa con tinh thần” đầu lòng đó của BP. Những lời chân tình trong lá thư bất chợt làm buổi trưa mùa hè của Cali dễ chịu hẳn.
“Nước mắt Mùa Đông” là một tác phẩm đầu tay của một chàng lãng tử Việt trên đất Mỹ. Nó chắc chắn không phải là một tác phẩm hoàn mỹ, nhưng văn phong nhẹ nhàng, giản dị, đôi lúc quá chân thật vẫn lôi cuốn độc giả đọc hết một mạch cuốn sách. Những câu chuyện đời và đạo trong cuốn sách có những hình ảnh quen thuộc của tôi, của anh, của chúng ta, của những người con Việt trong thập kỷ 80 và những người Việt xa xứ lúc nào cũng đau đáu nhớ về quê hương.
Sách trình bày đẹp, nhiều hình ảnh của chính tác giả “Hắn vẫn là một người Việt Nam đơn độc như người lữ hành lang thang trên xứ lạ quê người”

Vài nét về Hộp đêm, nhà hàng, và mua sắm ở Las Vegas – Anh Thư

Las Vegas,  thành phố có một không hai trên thế giới,  thủ đô ăn chơi và giải trí với đầy đủ sự xa hoa, rực rỡ, và tráng lệ cho khách du lịch.

Las Vegas còn là 1 thế giới thu nhỏ với hàng trăm casino được xây cất theo kiến trúc của nhiều thành phố nổi tiếng trên thế giới.

Đến Las Vegas ngoại trừ các sòng bài, thì hộp đêm, nhà hàng và đi mua sắm shopping là những điều không thể thiếu được trong quá trình chuẩn bị du lịch của du khách.

strip_b86ddbea-3add-4995-b449-ac85d700b027

Hộp đêm:

Hộp đêm là một ngành kinh doanh khổng lồ và đầy lợi nhuận tại đây.

Hầu như mỗi casino đều có những đêm night club đặc biệt cho Lady như:

Tao Nightclub ở Venetian, 1 Oak Nightclub ở Mirage, Omnia Nightclub ở Caesars Palace, Dra’s Beachclub & Nightclub ở The Cromwell Hotel Las Vegas – Caesars Entertainment, Encore ‘s Beach Club và còn nhiều nữa.

Ở các hộp đêm này thường có những DJ nổi tiếng, hoặc sự xuất hiện của các ngôi sao nổi tiếng đến từ Hollywood.

Các hộp đêm ở đây thường mở suốt đêm khuya cho tới sáng sớm, với hàng ngàn nam thanh nữ tú mỗi cuối tuần.

 tmg-article_default_mobile

Nhà hàng:

Nhà hàng ở đây thì khỏi chê, đủ các loại ăn Tây, Tàu, Nhật, Pháp, Ý vằ đậc biệt đa số mở của rất khuya trong các sòng bài – có nhiều Casino mở cả 24/24.

Khách du lịch có thể có một bữa ăn thịnh soạn, đắt tiền từ trên những tầng lầu chót vót như Paris Casino, Mandarin Oriental Express, Stratosphere, hoặc Skyfall Lounge ở  sòng bài Mandalay Bay.

Hầu như tất cả casino nào cũng có Buffet, vừa ngon, vừa rẻ, mà vừa ăn thả ga tùy ý quí vị lựa chọn.las-vegas-north-premium-outlets-13

Chẳng hạn như Caesars Palace Casino thì có Bacchanal Buffet -có đến trên 300 món, Wicked spoon Buffet-  tại Cosmopolitan với những món ăn cầu kỳ, ngon miệng, Bellagio và Rio Buffet nổi tiếng với đồ biển.

Dọc đường Spring Mountain cách Las Vegas strip không xa, thì có khu China Town với đủ loại thức ăn á đông Tàu, Đại Hàn, Việt Nam, Nhật, và Thái Lan.

 

 

Ăn chay thì có những tiệm như Garden grill, Vege-way,  Simply Pure rất là đông khách. Bạn lỡ có đánh bài thua thì vào đây ăn chay để sám hối, là chắc ăn, vừa rẻ, vừa ngon và vừa suy ngẫm tình đời.

 

Las Vegas còn có một chỗ ăn rất ngộ nghĩnh và độc đáo, dành cho những ai thích cảm giác lạ đời, và sẽ làm cho giác quan của quý vị được năng cao đó là “ăn trong bóng tối” Blackout dinning in the dark. Quý vị sẽ vào nhà hàng không một ánh sáng. thưởng thức những món ăn bằng 4 giác quan, và chỉ một giác quan là “thị giác” sẽ không dùng đến.

 

Shopping:

Mua sắm ở Las Vegas thì khỏi nói, sợ quý vị không tiền thôi, chứ cái gì ở trên thế giới có là Las Vegas có. Hàng trăm của hàng ngàn thương hiệu nổi tiếng lớn nhỏ tọa lạc ,trong và ngoài Casino, cũng như Fashion show mall ngay trung tâm strip, và Las Vegas Outlet phía nam, và Charleston outlet nằm về phía bắc của Las Vegas strip.

 LasVegasShopping

Cấu trúc của các Casino với của kiếng luôn luôn đóng, trần nhà với hình bầu trời, và không bao giờ có một cái đồng hồ, là cả một nghệ thuật để tạo cho du khách một cảm giác phiêu lãng, không còn biết ngày giờ. Vì vậy, cộng với các sinh hoạt ăn chơi thường được mở 24 giớ 1 ngày, 7 ngày 1 tuần, nên Las Vegas được mệnh danh là Thành Phố không bao giờ ngủ, hay là Thiên Đàng của tội lỗi.

Anh Thư

Las Vegas June 5th 2018

 

CÔ GIÁO TỴ NẠN JENNIFER RAMM trại tỵ nạn Galang, Nam Dương – Nguyễn Khắp Nơi

 

Cô Giáo Tỵ Nạn mà tôi và các bạn đề cập tới ngày hôm nay, không phải là cô giáo ở Việt Nam đi vượt biên, sống tạm thời tại các trại tỵ nạn, mà là cô giáo người Úc, từ Úc tới các trại tỵ nạn để dậy tiếng Anh cho những người dân Tỵ Nạn đang sống ở đó.
Cô giáo người Úc này tên là Jennifer Joy Ramm.

30738581_2084455764905049_7456247403706192697_n
Cô Giáo Jenny đang nhận quà Giáng Sinh do đại diện trại tỵ nạn trao tặng, năm 1982.

Sau ngày Việt Cộng cưỡng chiếm Miền Nam, dân Việt chúng ta đã ào ạt bỏ xứ ra đi tìm Tự Do, vì không thể sống dưới chế độ bạo lực, tù đầy và sự trả thù dã man của bọn Cộng Sản. Cả thế giới dang rộng vòng tay và lòng từ thiện thiết lập những trung tâm tỵ nạn tại các hòn đảo trong vùng Á Châu Thái Bình Dương để chúng ta có nơi tạm trú chờ đi định cư ở các quốc gia khác.

Trong thời gian tạm trú này, đã có rất nhiều thiện nguyện viên nam cũng như nữ, già cũng như trẻ, ở khắp mọi nơi trên thế giới tới các trại tỵ nạn để giúp đỡ chúng ta tìm thân nhân thất lạc cũng như học Anh ngữ. Một trong những người trẻ đó là cô Jennifer Joy Ramm mà các bạn hữu và các học viên thường gọi cô bằng cái tên ngắn gọn và đầy tình thân: “Chị Jenny”.

Jenny là con cả trong một gia đình gốc Anh, sinh sống ở vùng Burra Burri thuộc Tiểu bang Queensland. Đến khi lớn lên, gia đình đã chuyển về Cooroy để cô có thể tiếp tục học bậc trung học ở Noosa.Tốt nghiệp trung học, Jenny được học bổng của chính phủ Liên Bang để tiếp tục học ở Đại Học Queensland.

Sau khi tốt nghiệp văn bằng Cử Nhân Văn Chương tại Queensland, cô đã xuống Melbourne học thêm để lấy chứng chỉ về Giáo Dục tại Đại học La Trobe.

Là thành viên của nhóm người trẻ tình nguyện hoạt động ở ngoại quốc “Australian VolunteersAbroad – AVA”, vào năm 1976, cô Jenny được cử đi dậy Anh ngữ tại một trường trung học ở Mukah, thuộc Malaysia. Với giọng nói nhẹ nhàng, vui tươi và thái độ cởi mở, Cô giáo Jenny đã thu phục được nhân tâm của các học sinh và phụ huynh của Mukah, đến nỗi có gia đình đã đặt tên con của họ là Jenny để ghi nhớ thời gian cô dậy học cho các em học sinh tại đây.

Năm 1979, cô lại được cử đến trại tỵ nạn Ban Vmai ở Thái Lan, để lập ra một chương trình giảng dậy tiếng Anh cho 60.000 người Hmong đang sống ở trại tị nạn này. Để có thể dậy tiếng Anh một cách hữu hiệu, cô đã theo cách thức của các nhà truyền giáo là học tiếng bản địa trước. Jenny đã bỏ ra bốn tháng trời để chuyên tâm học tiếng Thái Hmong cho thật trôi chẩy, rồi sau đó mới dùng chính ngôn ngữ của họ mà dậy tiếng Anh cho họ. Trong vòng hai năm trời, cô đã xây dựng lên một trung tâm giảng dậy với nhiều lớp học, thuê giáo viên địa phương và mua cả một chiếc xe chở hàng nữa.

Với những kinh nghiệm giảng dậy này, vào khoảng cuối năm 1981, cô đã được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc mới đi dậy tiếng Anh cho các Thuyền Nhân Việt Nam tại trại Tỵ Nạn Galang, thuộc Indonesia.

Tại Galang, công vỉệc của Cô Giáo Jenny không chỉ đơn giản là dậy tiếng Anh cho người Việt Nam, cô con phải giúp đỡ họ chuẩn bị cho cuộc sống mới ở các nước Tây Phương, mà ở đó, không những họ chỉ phải đương đầu với sư khác biệt về ngôn ngữ, mà còn cả những khác biệt về phong tục tập quán, cách thức ăn uống và những sinh hoạt hàng ngày nữa. Các học viên của cô, gồm đủ mọi trình độ, đủ mọi lứa tuổi và đủ mọi ý thích. Từ đó, cô Jenny mới chia lớp học ra thành nhiều nhóm khác nhau: Nhóm nhỏ bạo dạn hơn, nói lung tung mà không sợ bị chê là sai, nên học nhớ chữ mau hơn và nói đúng giọng hơn. Nhóm lớn tuổi, trí nhớ kém đi và hay bị mặc cảm nên khó nhớ mặt chữ và giọng đọc cứng hơn. Một nhóm đặc biệt mà chỉ có ở trại tỵ nạn Việt Nam, đó là nhóm trai tráng đã đi lính, bị Việt Cộng bắt đi tù “Cải Tạo” rồi trốn về hoặc được thả về. Nhóm người này đa số biết nói một chút ít tiếng Anh, một số nói rất khá.Họ rất chăm chỉ học và cố gắng nói thật nhiều để cô sửa giọng cho họ.Đối với nhóm cựu quân nhân này và những nhóm lớn tuổi, cách giảng tiếng Anh của cô là kể những câu chuyện về đời sống hàng ngày tại Úc và dậy cho họ những câu đối thoại cần thiết.

Theo kinh nghiệm dậy học cho người Hmong, ngoài giờ dậy học, Jenny thường hay tới thăm viếng những láng trại của người Việt tỵ nạn để nói chuyện với họ, tìm hiểu cách thức sinh sống của họ và nhất là . . . học tiếng Việt bằng cách . . . nói tiếng Anh với người Việt. Từ những buổi tiếp xúc này mà cô giáo Jenny quen biết rất nhiều bạn bè và biết ăn cơm, biết cầm đũa. Một cô thợ may đã đo và may tặng cho Jenny một chiếc áo dài, cô mặc thử, thấy đẹp quá, về thư viện, cô đã tìm sách đọc thêm, và sau khi biết chíêc áo này được coi là quốc phục của người Việt Nam, cô đã khuyến khích các cô gái Việt trên đảo giữ truyền thống áo dài của mình bằng cách . . . tổ chức một cuộc thi áo dài ngay trên đảo tỵ nạn.

30729294_2084458361571456_7752746128672746016_n
Cô Giáo Tỵ Nạn tổ chức thi Hoa Hậu Áo Dài mừng xuân Quý Hợi 1983 tại trại tỵ nạn Galang.

Trong một buổi giảng dậy, cô giáo Jenny để ý thấy có một cậu trai luôn luôn lảng vảng phía ngoài lớp học, nhưng không bao giờ vào dự lớp học của cô.Nghĩ rằng anh này có thể . . . còn ngại ngùng gì đó, nên cô giáo đã đích thân ra mời anh vô lớp để học cho vui, nhưng anh mắc cở đỏ mặt chạy đi nơi khác.Một lúc sau, anh ta lại quay trở lại, nhưng cũng vẫn đứng ở ngoài lớp học chứ không vô trong lớp.Lâu dần, cô không thắc mắc nữa, mà chỉ giảng và đọc lớn hơn để người đứng ở ngoài có thể nghe rõ hơn mà thôi.

Đến năm 1983, cô giáo Jenny trở về lại Melbourne, tiếp tục dậy tiếng Anh tại Trung Tâm Anh Ngữ Cho Những Người Di Dân Lớn Tuổi (Adult Migrant English Service-AMES), tại đây, Jenny cũng vẫn giúp đỡ người dân tỵ nạn Việt Nam bằng cách khuyến khích họ làm những công việc mà họ có khả năng từ hồi ở Việt Nam, và dậy họ nói Tiếng Anh về chính ngành nghề họ có thể làm, muốn làm và đang làm. Cô giáo Jenny thành công ở chỗ, cô có thể nói tiếng Việt, hiểu tiếng Việt, để nghe người Việt nói ra những điều họ muốn biết, muốn học, do đó đã giúp người Việt có hứng thú khi học tiếng Anh và vì thế mà họ học mau hơn, tiến bộ hơn. Jenny lại có sáng kiến tổ chức những buổi barbecue tại nhà của mình, mới các bạn trẻ người Úc và người tỵ nạn Việt Nam cùng tham dự, để cả hai bên hiểu rõ nhau hơn và nhất là để các bạn trẻ người Việt có cơ hội nói chuyện, trau dồi khả năng Anh ngữ của mình. Nhiều cô giáo đã rất ngại ngùng phải dậy học cho đám trẻ thiếu niên đi tỵ nạn một mình, vì các em . . . khó dậy, không chịu tiếp xúc . . . Riêng đối với Jenny, cô không thấy có gì trở ngại cả, vì cô hiểu tâm tình của đám trẻ này, cứ để cho các em tâm sự với cô về những khó khăn của cuộc sống, cô nhờ nhân viên xã hội giải quyết những điều các em mong muốn, rồi sau đó mới dậy học cho các em nhỏ này. Việc quan trọng nhất mà Jenny muốn hướng dẫn họ là, nên đi học trở lại để có kiến thức và có một tương lai tốt đẹp hơn.

Cũng vì tình thân với người Việt, đã có nhiều người mời Jenny dự đám cưới của họ, và cô rất vui khi được mặc áo dài để bưng mâm ngũ quả đi rước dâu.
Gia Đình hạnh phúc.

Trong một buổi barbecue mời tất cả các . . . cư dân của đảo Galang, cô giáo Jenny lại gặp lại người thanh niên thường hay lảng vảng ngoài lớp học của cô hồi còn ở trại tỵ nạn. Anh chàng cũng vẫn đứng một mình, tay cầm lon coca xoay qua xoay lại chứ không bắt chuyện với ai. Cô giáo Jenny nghĩ rằng anh này chắc . . . không biết tiếng Anh, hoặc là ít nói, nên đã tới nói chuyện với anh ta.Anh vui vẻ nói chuyện, tự giới thiệu tên là Sơn, hiện đang làm việc cho Australia Post, tại Blackburn Mail Centre. Cô Jenny rất là ngạc nhiên khi biết anh . . . biết nói tiếng Anh, và lại nói khá nữa:
“Ah! Vì anh biết nói tiếng Anh rồi, nên mới không tham dự lớp học của tôi ở trại tỵ nạn, có phải vậy không?”
Lại trái với dự đoán của Jenny khi anh con trai trả lời:
“Không phải vậy. Hồi đó, quả thực tôi dở tiếng Anh lắm. Vì tình trạng chiến tranh, tôi chỉ mới học hết lớp 11 mà thôi. Đến khi Việt Cộng chiếm miền Nam, tôi là con Lính Cộng Hòa nên đâu có được tiếp tục học nữa, tôi phải đi bán hàng với mẹ để kiếm sống cho gia đình, bao nhiêu tiếng Anh tôi học ở trường, tôi quên hết trơn, nên tôi đâu có biết học từ đâu? Thấy cô dậy học, tôi cũng muốn vô học, nhưng thấy mình lớn rồi, vô học không biết một câu tiếng Anh tiếng U nào hết . . . mắc cở với đám con nít lắm . . . nên tôi chỉ đứng ngoài nghe lén mà thôi. Hơn nữa, cô nói tiếng Anh của người Úc . . . khó nghe quá, tôi nghe như là . . . vịt nghe sấm . . . chẳng hiểu cô nói gì hết, thì làm sao mà học?”
Cô giáo Jenny lúc nào cũng có thói quen nghề nghiệp, cô khuyến khích Sơn:
-“Anh nói tiếng Anh hay lắm, lại được làm ở Australia Post thì đời sống cũng khá lắm rồi . . . nhưng nếu anh muốn, anh có thể đi học lại, vô đại học học nghành nào mà anh thích, biết đâu lại có tương lai sáng sủa hơn!”
-“Tôi cũng muốn lắm, nhưng tôi . . . mới học xong lớp 11 chứ chưa tốt nghiệp trung học, làm sao tôi có thể vô đại học được?Hơn nữa, tiếng Anh của tôi chỉ đủ để làm việc thôi, chứ chưa đủ để học đại học đâu.”
-“Anh đừng lo, tôi có thể giúp anh về phần tiếng Anh, anh sẽ dư sức học. Ở Úc có những trường cao đẳng, gọi là trường TAFE (Technical And Further Education) dành cho những người chưa học xong trung học, tôi sẽ giới thiệu anh với chú tôi, một giáo sư của trường Footscray Institute of Technology (FIT- sau này nhập chung với trường Đại học Victoria University) để chú giải thích cho anh nhiều hơn.”

Khi về nhà, anh Sơn mới kể lại câu chuyện cho người bạn cùng phòng là anh Lê Hữu Giàu nghe.Anh Giàu cũng khuyên anh Sơn nên đi học để có tương lai khá hơn.

Thế là anh Sơn đi gặp Giáo sư Douglas Ramm để vấn kế. Ông Douglas làm đúng luật, đã đưa đơn cho anh điền để học thử ba môn học về Civil Engineering xem kết quả ra sao cái đã. May mắn, anh đậu hết cả ba môn toán học này, ông Douglas liền hướng dẫn anh một lần nữa nộp đơn xin học khóa Bachelor of Civil Engineering.

Thực sự thì Sơn chưa muốn hoàn toàn định cư ở bên Úc, đầu óc của anh vẫn còn hướng về Việt Nam: Khi Sơn còn ở trên đảo Galang, anh đã có nghe về Phong Trào Phục Quốc của Tướng Hoàng Cơ Minh, Sơn định cư tại Úc đúng vào thời điểm Phong Trào Phản Chiến bộc phát rất lớn, Sơn nhớ lời cha dặn là ráng tìm cách gia nhập bất cứ tổ chức kháng chiến nào, để trở về Việt Nam tiêu diệt bọn Cộng Sản, khôi phục lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa thân yêu tràn đầy tự do và lòng nhân ái. Do đó, khi được chấp nhận cho học, Sơn phân vân không biết nên lựa chọn con đường nào? Anh đem việc này ra bàn với Jenny.Tiếc thay, cô giáo Jenny chỉ có thể giúp anh trau dồi Anh ngữ thôi, chứ không có khả năng giúp anh về vấn đề này, nên Sơn quyết định không nộp đơn xin học, mà chờ tin để trở về Việt Nam cùng với các bạn bè trong nhóm.

Buồn thay, tổ chức phục quốc càng ngày càng im tiếng và không có ai liên lạc với anh để nói tới ngày về cả. Sơn đành phải nộp đơn xin đi học và bảo lãnh cha mẹ qua Úc chung sống.

Muốn tỏ tình với một cô gái đã là chuyện khó rồi, huống chi cô gái này lại còn là cô giáo dậy tiếng Anh nữa, công việc càng trở nên phức tạp và . . . khó khăn hơn.

Một lần đến nhà Jenny ăn cơm tối, Sơn đem theo cây đàn hát tặng Jenny bản nhạc “Nắng Chiều”:
“. . . Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà
Gợn buồn nhìn em anh nói: “Mến em!”
Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi
Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi . . .”
(Nhạc Lê Trọng Nguyễn)
Hát xong bản nhạc, Sơn đã hỏi Jenny bằng tiếng Việt:
“Jenny à . . . nếu tôi muốn nói . . . anh yêu em . . . bằng tiếng Anh, thì . . . làm cách nào để nói?”
Jenny thích bản nhạc Nắng Chiêu quá, đang lo hát theo, nên không biết mánh của Sơn, cô ngây thơ trả lời:
“Thì nói . . . I love you . . . dễ mà.”
Thế là Sơn vừa khẩy đàn vừa nhìn Jenny mà hát câu hát để đời:
“I love you . . . I love you . . . and I love you . . .”
Sơn hát đến lần thứ ba thì Jenny mới hiểu, cô đỏ mặt hỏi lại Sơn bằng . . . tiếng Anh:
“Are you serious?”
Sơn lại trả lời bằng . . . tiếng Việt:
“Anh nói thiệt mà!”.

Sơn tốt nghiệp thủ khoa khóa Civil Engineer của FIT vào năm 1990.Một tháng sau khi cha mẹ Sơn qua định cư ở bên Úc, Jenny và Sơn làm đám cưới. Jenny rành đủ sáu câu về đám cưới Việt Nam, nên cô đòi đủ thứ . . . nào là áo cưới cô dâu, vương miện, bông tai, dây chuyền vàng, ngũ quả, heo sữa và pháo nổ . . . thậm chí cả phong bao lì xì cho đám con nít giữ cửa ở nhà gái khi rước dâu cũng phải có đầy đủ.

Ba Mẹ của chàng rể Sơn mới từ Việt Nam qua, nghe đằng nhà gái nói tiếng Anh líu lo cứ như là chim hót, chẳng biết người ta nói cái gì, nhưng cũng biết đó là những lời chúc tụng cho cô dâu chú rể.Khi mẹ chồng được mời ra đeo dây chuyền cho cô dâu, thiếu điều bà phải bắc ghế đứng lên mới quàng dây chuyền qua cổ cô dâu Tây được. Đằng nhà gái lần đầu tiên nhìn thấy cô dâu và đám phù dâu mặc áo dài thật là đẹp, thấy người nhà bưng các khay đựng đủ thứ bánh trái, rồi lại được nghe pháo nổ đì đùng khói bay khét lẹt . . . thật là vui . . . vui quá xá là vui.

Vì tốt nghiệp ưu hạng, Sơn được học bổng của chính phủ để học Master, nhưng việc đầu tiên của người chồng và người con là phải lo làm ăn kiếm tiền lo cho gia đình và phụng dưỡng cha mẹ, nên Sơn đã từ chối học bổng để đi làm với công ty xây cất John Holland, và được cử đi làm việc ở Kuching, Mã Lai.

Đứa con gái đầu lòng tên Lanna của hai vợ chồng ra đời vào tháng 4 năm 1993, chỉ một tháng sau là Jenny đã được hưởng Mother day lần đầu tiên trong đời.
Cô gọi điện thoại về Úc chúc mừng mẹ:
“Chúc mẹ một ngày “Mother day” vui vẻ . . . và cũng một ngày “Mother Day” vui vẻ cho chính con nữa . . . vì con cũng đã là mẹ của bé Lana rồi.”

Đến năm 1995, em trai của Lana cũng đã chào đời, được ba mẹ đặt tên là Liam (Từ khi Jenny mới bắt đầu mang bầu, hai vợ chồng đã bàn tính suốt chín tháng trời để tìm cách đặt tên cho con, những cái tên nào vừa có sắc thái của Vương Quốc Anh, lại vừa vẫn có vẻ là một cái tên Việt Nam. Lana cũng có nghĩa là Lan và Liam cũng có thể đọc là Liêm.Ông Bà Nội cũng đọc tên các cháu được, mà Ông Bà Ngoại cũng cảm thấy happy khi gọi tên hai đứa cháu của mình.)

Khi các con đã lớn, và cha mẹ đã có phần già yếu, Sơn và Jenny quyết định xin trở về Úc làm việc. Lana thi đậu vào trườngMac Roberson và tốt nghiệp VCA với số điểm ưu hạng 99.30 nhưng cháu lại không muốn học Y, Nha, Luật . . . mà chỉ muốn theo gót của mẹ, học Art ở Melbourne University, thời giờ rảnh thì cháu . . . đi làm việc thiện nguyện. Còn Liam thì học IT ở RMIT University với ước mơ trở thành . . . tài tử đóng phim, trong khi Jenny thì đi dậy trở lại ở VUT – Victoria University of Technology.

Lana và Liam được mẹ cho biết gốc gác của mình là . . . dân tỵ nạn Việt Nam, vượt biên tới đảo và được định cư ở Úc, nên lâu lâu, hai chị em đùa dỡn với nhau, Liam đóng vai Việt Nam, nói với chị:
“Tôi là . . . Vietnamese Boat people . . . tôi không biết nói tiếng Anh . . .”
Lana đóng vai cô giáo, nghiêm trang trả lời:
“If you be good . . . I will teach you how to speak English . . .”
Jenny và Sơn nhìn nhau cười.

Vào khoảng tháng Ba Năm 2011,trận bão Yasi đã tàn phá hầu hết những trang trại trồng chuối ở Queensland, giá bán chuối ở các siêu thị vọt lên tới con số kỷ lục là $14.00 một Ký, có nơi còn không có chuối để mà bán.
Sáng sớm ngày Mother’ Day năm 2011, ba cha con mặc quần áo đẹp đẽ, trịnh trọng lái xe đi chợ, khệ nệ đem một gói quà thật lớn đưa tặng cho mẹ. Hai chị em cùng la lớn:
“Happy Mother’ Day my dear Mummy”.
Jenny mở gói quà ra: Một nải chuối với năm trái chín vàng óng ánh.
Jenny sung sướng cười thật tươi, nhưng vẫn cự nự chồng:
“Chuối mắc lắm, anh mua làm chi cho tốn tiền.”
Lana và Liam lại đồng thanh nói:
“Chúng con có tiền . . . chúng con mua tặng mẹ.”
Phần của Sơn là một bó hoa đỏ thắm đưa tặng vợ.

Jenny bị cancer ruột từ năm 2006, coi như đã lành bệnh sau nhiều ca mổ, nhưng đến cuối năm 2011 thì bệnh của cô lại tái phát, qua những vết sẹo còn lại của những ca mổ trước đây. Sơn nghỉ làm suốt ngày luẩn quẩn tại bệnh viện St. Vincent lo chăm sóc cho Jenny. Nhà thương thấy vậy, cho Sơn mướn luôn một phòng để ăn ngủ tại chỗ cùng với vợ.
Những ngày cuối của cuộc đời, hai đứa con cũng nghỉ học để ở bên cạnh mẹ.
Lana và Liam nắm tay mẹ mà nói:
“Mẹ sẽ khỏe lại mà . . . Mother’s Day năm tới chúng con sẽ lại mua chuối cho mẹ ăn nữa nha.”
Sơn so lại phím đàn, hát cho Jenny nghe bản nhạc “Bên Kia Sông”:
“. . . Này người yêu, người yêu anh ơi!
Bên kia sông là ánh mặt trời
Này người yêu, người yêu anh hỡi!
Bên kia đồi, cỏ hoa đan lối
Bên kia núi, núi cao chập chùng
Bên kia suối, suối reo lạnh lùng
Là bài thơ, toàn chữ hư vô . . .”
(Nhạc của Nguyễn Đức Quang.)

Cô Giáo Tỵ Nạn Jenny Ramm ra đi vào ngày 10 01 2012 với tuổi đời 58 còn rất trẻ trung, để lại chồng và hai đứa con.
Từ bốn phương trời, những người dân Việt tỵ nạn ở đảo Galang trước đây đã được cô giáo Jenny dậy học tiếng Anh đã gởi thơ chia buồn đến cho gia đình:
“Jenny . . . chúc chị ra đi bình yên . . . Tên của chị, hình bóng của chị, tiếng Anh của chị dậy . . . sẽ không bao giờ phai nhòa trong trí óc chúng tôi . . .”

Cô Giáo Tỵ Nạn Jennifer Joy Ramm, đã đem tất cả lòng nhiệt thành và tuổi trẻ của mình ra để phục vụ người tỵ nạn khắp bốn phương trời, nhất là người tỵ nạn Việt Nam
CÔ DÂU CỦA NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN . . . LÀ NHƯ THẾ ĐẤY.

Nguyễn Khắp Nơi
(Viết theo lời kể của anh Nguyễn Sơn và các con.)

Blog at WordPress.com.

Up ↑