Những điều kỳ lạ trong cuộc sống – Alain Bảo – diễn đọc Diệu Nghiêm

Cuộc đời thường đầy dẫy những bất ngờ kỳ diệu, với kết cục đầy bi thương, hoặc sửng sốt đầy ngạc nhiên. Đó là một trong những tính chất quan trọng nhất, để bạn tập cách học và cách sống theo từng bước thăng trầm của từng quãng đời, khúc ngoặc, ngã rẻ. Và hãy luôn luôn nhớ rằng chuyện gì cũng có thể xảy ra bất cứ nơi nào, bất cứ phút nào, để sống thật đáng giá mỗi giây phút hiện tại.

Sau đây tôi xin chia xẻ một vài câu chuyện thật 100% đã xảy ra trong nữa cuộc đời tôi:
Chuyện thứ nhất:
Chỉ trong vòng hơn 2 tháng từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1975, cũng như hàng chục triệu đồng bào miền nam Việt Nam khác, gia đình tôi vốn thuộc loại trung lưu , sĩ quan “ngụy”, được chính quyền miền bắc đẩy xuống tận cùng đáy vực của xã hội, kể từ ngày đó đại gia đình tôi lang thang kiếm sống tận hang cùng ngỏ hẻm, sống chui sống nhủi cả hơn 20 mạng trong nhà ngoại tôi tại Sài Gòn.

Chuyện thứ hai:
Vào tuổi mới lớn, lúc vẫn còn ở Sài Gòn Việt Nam, vốn ham mê võ thuật và thể thao, tôi thường xin theo học các lớp về các phái võ tàu, nhật, đại hàn. Cho đến 1 ngày, trong lúc tập một thanh sắt thật to tình cờ rớt vào gáy, tôi bất tỉnh và chở vào bệnh viện.
Kể từ ngày đó, hàng trăm bệnh trong người bộc phát ra bởi hàng trăm ông bác sĩ, mỗi lần là một bệnh mới. Trong vòng 1 năm tôi uống cả hàng trăm loại thuốc từ A đến Z, bện không thuyên giảm mà còn nặng thêm.
Sau đó nhân duyên đưa đẩy, tôi gặp 1 vị sư nam tông trẻ nhận tôi làm đồ đệ, theo thầy, tôi khăn gói lên núi Dinh Bà Rịa Long Thành để chữa bệnh, tôi mang theo một vài quyển sách của thiền sư Osawa và Tuyệt Thực Đi Về Đâu của Thái Khắc Lễ.
Sư chỉ đáng tuổi anh tôi, nhưng dáng người cao ráo nhanh nhẹn, mỗi sáng Sư đi như bay trên những con đường núi hoang vu, đầy đá và cây dại , để lấy nước. Am Lá nơi sư và tôi ở chỉ là 1 hòn đá thật to, được đẽo đục bằng phẳng, và trên đó được xây 2 cái cái chòi bằng tranh.
Trong vòng 2 năm liên tục:
Năm đầu tiên: tôi nhịn đói tuyệt thực tuyệt đối đúng 30 ngày, chỉ uống nước lã H2O (không uống không ăn bất cứ một thứ pha chế nào khác), hoặc nước suối do sư mang về am, 11 tháng sau đó tôi ăn gạo lức muối mè phương pháp số 7 (thuần gạo lức + muối mè + nước lã)18076828_1699342920077663_5285601896763042021_o

Năm thứ 2: tôi nhịn đói tuyệt thực tuyệt đối đợt 2 đúng 29 ngày, chỉ uống nước lã H2O, 11 tháng sau đó tôi ăn gạo lức muối mè phương pháp số 7 tuyệt đối.
Sau 2 năm bệnh tôi khỏi dần và mọi triệu chứng tim phổi gan não ngũ phục lục tạng hư hao, theo lời bao nhiêu bác sĩ tây y tào lao thiên địa phán quyết cũng biến theo mây khói.
Cùng lúc đó nhà cầm quyền CS trục xuất tất cả tăng chúng trên núi Dinh xuống để đi thanh niên xung phong, Thầy tôi vượt biên và không nghe tin tức gì đã hơn 30 năm qua. Tôi định cư tại Mỹ,thở hít bầu không khí tự do, được học hành công ăn việc làm đến nơi đến chốn.
Thỉnh thoảng, tôi có thấy nhiều người bạn bị ung thư, tôi có offer hãy theo phương pháp số 7 Osawa và nhịn ăn Tuyệt Đối, nhưng không ai chấp nhận hoặc tin những điều tôi nói. Có duy nhất một bác ở Cali thực hành đúng 1 tháng thì bệnh thuyên giảm rất nhiều, bác có thể lái xe và sinh hoạt bình thường, dù rằng trước đó bác nằm liệt giường.
Nhưng 1 năm sau, thì tôi nghe bác qua đời, tôi có hỏi người thân cũng là bà con của tôi là tại sao hôm bữa thấy đỡ nhiều , sao bây giờ lại như vậy ? Tôi biết được rằng trong thời gian ăn gạo lức muối mè phương pháp số 7, bác đã xen kẽ uống sữa , nước sinh tố, lâu lâu ăn mì, hủ tiếu, vốn đã vi phạm nghiêm ngặt phương pháp Osawa và Dưỡng Sinh.
Cho đến bây giờ, tôi vẫn ăn gạo lức hơn 30 năm qua, dù nấu trong nồi điện, và luôn có một hủ muối mè ,thỉnh thoảng vẫn nhịn ăn 7 ngày hoặc vài ba ngày (Gạo đỏ và mè không lột vỏ tôi đều mua ở Whole Food hoặc Trade Joe’s)
Chuyện Thứ Ba:1919661_871380476207249_4254915296963859690_n-copy
Năm 2012, ngoài bơi lội ra mỗi chiều tôi còn rất thích chạy xe đạp cuộc với tốc độ nhanh. Buổi chiều hôm đó tôi đang chạy thả dốc buổi chiều trên một con đường khá quanh co, xe càng chạy nhanh mà đường càng tối, tôi chưa kịp thắng từ từ vì thấy quá nguy hiểm thì bánh xe đã trượt đường chạy, và tôi văng tung người từ trên lề đường lộn lăn lộn đồi, không đội mũ bảo hiểm, mặt tôi đập mạnh vào đá và sõi, cặp kính đen đi xe đạp vỡ nát.
Máu chảy đầy mặt và toàn thân đau nhói, chỉ thấy bóng mờ xung quanh, sợ hải vội cởi chiếc áo thun và lau nhẹ khuôn mặt đầy máu, tôi chớp mắt mấy lần nhìn chung quanh 1 lần nữa , để xác định mình có bị mù không ? quá mừng vì tôi vẫn thấy rõ nhà cửa chung quanh.
Tôi được đưa vào bệnh viện cấp cứu khâu 11 mũi, gãy sóng mũi, bể tuyến nước mắt, bể xương sườn trái, và mắt trái bị yếu hẳn đi nhiều.
Tôi đi khám khoảng 1 tuần và được cho về nhà (tiền thuốc thang bệnh viện lên gần 80,000$ US), về nhà tôi tự nấu cháo gạo lứt muối mè, uống nước lã, ăn cháo gạo lứt muối mè rất ít, và uống thuốc giảm đau, nằm nghĩ trong vòng 6 tháng. Điều kỳ diệu, khuôn mặt tôi lành thật nhanh, chỉ có 1 vết thẹo thật nhỏ nằm dưới mí mắt mà ai nhìn thật kỹ mới thấy, các xương bị vỡ cũng tự động lành rất nhanh, dù rằng mắt trái kém hơn xưa rất nhiều.

Chuyện Thứ Tư:
Năm 2015 cùng ngày tan tiệc re-union với bạn tại orange county lúc đó đã khoãng 12 giờ đêm, không hiểu sao tôi lại quyết định lái về Las Vegas, khoãng 3 giờ rưỡi sáng tôi cảm thấy bắt đầu buồn ngủ, nhưng vì cảm thấy gần tới Vegas, nên tôi nghĩ ráng chút nữa về nhà ngủ luôn, dù rằng lúc đó mắt tôi đã mệt và bắt đầu thấy loạn thị 2-3 chiếc xe truck chở hàng từ Cali đi Vegas (thường thì giờ này Xe chở hàng từ California bắt đầu chạy lên Las Vegas).
Mắt tôi đang mệt mỏi thì “bang..” xe tôi đụng vào hàng lề bằng sắt bên phải dội ra, và không biết phép mầu nào giúp tôi lách khỏi chiếc xe truck đang chạy trước mặt.
Mồ hôi lạnh đầm đìa vì vừa thoát chết trong đường tơ kẻ tóc, tôi vội quẹo đại vào 1 exit vắng tanh khóa chặt cửa, và lăn đùng ngủ 1 giấc như chết tới sáng.
Sáng dậy, thoải mái khỏe khoắn tôi lái chậm rãi khoan thai về Las Vegas.

Chuyện Thứ Năm:19956909_1240928709368836_3267221894618981363_o
Thứ Năm Ngày 20 tháng 7 Năm 2017 – Từ cõi chết trở về
Trưa thứ 5 ngày 20 tháng 7 năm 2017, vừa lái khỏi Las Vegas khoảng 100 miles tức là qua khỏi Baker 1 tí, để ra cắm trại và tắm biển mỗi năm ở San Clemente California. Tôi với tay phải chồm lấy chiếc Iphone làm GPS thì bổng nhiên chiếc xe tôi đang chạy trên freeway 15 đâm sang lề phải, đụng mạnh vào dãy tường bằng gạch cát mới đào lên, và dội ra đường cái, mắt tôi vẫn mở toang, chiếc xe tôi vừa lao xuống lề phía trái vốn là một con đường đất sa mạc thật rộng, dùng để chia đôi FREEWAY 15, chiếc xe tôi vẫn lao băng băng về phia trước trên con đường sa mạc, được khoãng 30 giây thì chiếc xe ngừng lại bởi đất cát sa mạc.
Trên con đường tôi đi, xe tải, xe nhỏ lớn vẫn chạy vun vút, nhưng thật lạ kỳ tại sao khi chiếc xe tôi lạc tay lái trên đường cái thì không chiếc xe nào đụng. Đang chạy với tốc độ 85 miles và quay loạn xạ ỏ Freeway, nếu có chiếc nào đụng vào, thì tôi tin chắc 100% tôi sẽ từ tàn phế suốt đời cho tới chết.
Vừa mở cửa xe, vừa hoàn hồn bước ra khỏi chiếc xe bẹp lép, tôi biết rằng, tôi đã sống lại, hoặc ơn trên ông bà thần thánh đã phù hộ tôi. Nếu không chắc chắn, bây giờ tôi sẽ không có mặt trên cõi đời này để kể lại cho bạn đọc những mẫu chuyện kỳ diệu xảy ra trong đời.
Hảy nhớ rằng bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra, bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, và bạn có thể chết bất cứ lúc nào…cũng như là nếu chữa trị đúng lúc và kiên trì ý chí – bạn sẽ là người bác sĩ tốt nhất cho bạn.

Không có ai hiểu chính sức khỏe và bản thân bạn chính bằng bạn !
Không có chiến thắng nào bằng chiến thắng được bản thân mình !
ALAIN BẢO
JULY 22 2017
LAS VEGAS NV USA

CÔ GIÁO TỴ NẠN JENNIFER RAMM trại tỵ nạn Galang, Nam Dương – Nguyễn Khắp Nơi

 

Cô Giáo Tỵ Nạn mà tôi và các bạn đề cập tới ngày hôm nay, không phải là cô giáo ở Việt Nam đi vượt biên, sống tạm thời tại các trại tỵ nạn, mà là cô giáo người Úc, từ Úc tới các trại tỵ nạn để dậy tiếng Anh cho những người dân Tỵ Nạn đang sống ở đó.
Cô giáo người Úc này tên là Jennifer Joy Ramm.

30738581_2084455764905049_7456247403706192697_n
Cô Giáo Jenny đang nhận quà Giáng Sinh do đại diện trại tỵ nạn trao tặng, năm 1982.

Sau ngày Việt Cộng cưỡng chiếm Miền Nam, dân Việt chúng ta đã ào ạt bỏ xứ ra đi tìm Tự Do, vì không thể sống dưới chế độ bạo lực, tù đầy và sự trả thù dã man của bọn Cộng Sản. Cả thế giới dang rộng vòng tay và lòng từ thiện thiết lập những trung tâm tỵ nạn tại các hòn đảo trong vùng Á Châu Thái Bình Dương để chúng ta có nơi tạm trú chờ đi định cư ở các quốc gia khác.

Trong thời gian tạm trú này, đã có rất nhiều thiện nguyện viên nam cũng như nữ, già cũng như trẻ, ở khắp mọi nơi trên thế giới tới các trại tỵ nạn để giúp đỡ chúng ta tìm thân nhân thất lạc cũng như học Anh ngữ. Một trong những người trẻ đó là cô Jennifer Joy Ramm mà các bạn hữu và các học viên thường gọi cô bằng cái tên ngắn gọn và đầy tình thân: “Chị Jenny”.

Jenny là con cả trong một gia đình gốc Anh, sinh sống ở vùng Burra Burri thuộc Tiểu bang Queensland. Đến khi lớn lên, gia đình đã chuyển về Cooroy để cô có thể tiếp tục học bậc trung học ở Noosa.Tốt nghiệp trung học, Jenny được học bổng của chính phủ Liên Bang để tiếp tục học ở Đại Học Queensland.

Sau khi tốt nghiệp văn bằng Cử Nhân Văn Chương tại Queensland, cô đã xuống Melbourne học thêm để lấy chứng chỉ về Giáo Dục tại Đại học La Trobe.

Là thành viên của nhóm người trẻ tình nguyện hoạt động ở ngoại quốc “Australian VolunteersAbroad – AVA”, vào năm 1976, cô Jenny được cử đi dậy Anh ngữ tại một trường trung học ở Mukah, thuộc Malaysia. Với giọng nói nhẹ nhàng, vui tươi và thái độ cởi mở, Cô giáo Jenny đã thu phục được nhân tâm của các học sinh và phụ huynh của Mukah, đến nỗi có gia đình đã đặt tên con của họ là Jenny để ghi nhớ thời gian cô dậy học cho các em học sinh tại đây.

Năm 1979, cô lại được cử đến trại tỵ nạn Ban Vmai ở Thái Lan, để lập ra một chương trình giảng dậy tiếng Anh cho 60.000 người Hmong đang sống ở trại tị nạn này. Để có thể dậy tiếng Anh một cách hữu hiệu, cô đã theo cách thức của các nhà truyền giáo là học tiếng bản địa trước. Jenny đã bỏ ra bốn tháng trời để chuyên tâm học tiếng Thái Hmong cho thật trôi chẩy, rồi sau đó mới dùng chính ngôn ngữ của họ mà dậy tiếng Anh cho họ. Trong vòng hai năm trời, cô đã xây dựng lên một trung tâm giảng dậy với nhiều lớp học, thuê giáo viên địa phương và mua cả một chiếc xe chở hàng nữa.

Với những kinh nghiệm giảng dậy này, vào khoảng cuối năm 1981, cô đã được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc mới đi dậy tiếng Anh cho các Thuyền Nhân Việt Nam tại trại Tỵ Nạn Galang, thuộc Indonesia.

Tại Galang, công vỉệc của Cô Giáo Jenny không chỉ đơn giản là dậy tiếng Anh cho người Việt Nam, cô con phải giúp đỡ họ chuẩn bị cho cuộc sống mới ở các nước Tây Phương, mà ở đó, không những họ chỉ phải đương đầu với sư khác biệt về ngôn ngữ, mà còn cả những khác biệt về phong tục tập quán, cách thức ăn uống và những sinh hoạt hàng ngày nữa. Các học viên của cô, gồm đủ mọi trình độ, đủ mọi lứa tuổi và đủ mọi ý thích. Từ đó, cô Jenny mới chia lớp học ra thành nhiều nhóm khác nhau: Nhóm nhỏ bạo dạn hơn, nói lung tung mà không sợ bị chê là sai, nên học nhớ chữ mau hơn và nói đúng giọng hơn. Nhóm lớn tuổi, trí nhớ kém đi và hay bị mặc cảm nên khó nhớ mặt chữ và giọng đọc cứng hơn. Một nhóm đặc biệt mà chỉ có ở trại tỵ nạn Việt Nam, đó là nhóm trai tráng đã đi lính, bị Việt Cộng bắt đi tù “Cải Tạo” rồi trốn về hoặc được thả về. Nhóm người này đa số biết nói một chút ít tiếng Anh, một số nói rất khá.Họ rất chăm chỉ học và cố gắng nói thật nhiều để cô sửa giọng cho họ.Đối với nhóm cựu quân nhân này và những nhóm lớn tuổi, cách giảng tiếng Anh của cô là kể những câu chuyện về đời sống hàng ngày tại Úc và dậy cho họ những câu đối thoại cần thiết.

Theo kinh nghiệm dậy học cho người Hmong, ngoài giờ dậy học, Jenny thường hay tới thăm viếng những láng trại của người Việt tỵ nạn để nói chuyện với họ, tìm hiểu cách thức sinh sống của họ và nhất là . . . học tiếng Việt bằng cách . . . nói tiếng Anh với người Việt. Từ những buổi tiếp xúc này mà cô giáo Jenny quen biết rất nhiều bạn bè và biết ăn cơm, biết cầm đũa. Một cô thợ may đã đo và may tặng cho Jenny một chiếc áo dài, cô mặc thử, thấy đẹp quá, về thư viện, cô đã tìm sách đọc thêm, và sau khi biết chíêc áo này được coi là quốc phục của người Việt Nam, cô đã khuyến khích các cô gái Việt trên đảo giữ truyền thống áo dài của mình bằng cách . . . tổ chức một cuộc thi áo dài ngay trên đảo tỵ nạn.

30729294_2084458361571456_7752746128672746016_n
Cô Giáo Tỵ Nạn tổ chức thi Hoa Hậu Áo Dài mừng xuân Quý Hợi 1983 tại trại tỵ nạn Galang.

Trong một buổi giảng dậy, cô giáo Jenny để ý thấy có một cậu trai luôn luôn lảng vảng phía ngoài lớp học, nhưng không bao giờ vào dự lớp học của cô.Nghĩ rằng anh này có thể . . . còn ngại ngùng gì đó, nên cô giáo đã đích thân ra mời anh vô lớp để học cho vui, nhưng anh mắc cở đỏ mặt chạy đi nơi khác.Một lúc sau, anh ta lại quay trở lại, nhưng cũng vẫn đứng ở ngoài lớp học chứ không vô trong lớp.Lâu dần, cô không thắc mắc nữa, mà chỉ giảng và đọc lớn hơn để người đứng ở ngoài có thể nghe rõ hơn mà thôi.

Đến năm 1983, cô giáo Jenny trở về lại Melbourne, tiếp tục dậy tiếng Anh tại Trung Tâm Anh Ngữ Cho Những Người Di Dân Lớn Tuổi (Adult Migrant English Service-AMES), tại đây, Jenny cũng vẫn giúp đỡ người dân tỵ nạn Việt Nam bằng cách khuyến khích họ làm những công việc mà họ có khả năng từ hồi ở Việt Nam, và dậy họ nói Tiếng Anh về chính ngành nghề họ có thể làm, muốn làm và đang làm. Cô giáo Jenny thành công ở chỗ, cô có thể nói tiếng Việt, hiểu tiếng Việt, để nghe người Việt nói ra những điều họ muốn biết, muốn học, do đó đã giúp người Việt có hứng thú khi học tiếng Anh và vì thế mà họ học mau hơn, tiến bộ hơn. Jenny lại có sáng kiến tổ chức những buổi barbecue tại nhà của mình, mới các bạn trẻ người Úc và người tỵ nạn Việt Nam cùng tham dự, để cả hai bên hiểu rõ nhau hơn và nhất là để các bạn trẻ người Việt có cơ hội nói chuyện, trau dồi khả năng Anh ngữ của mình. Nhiều cô giáo đã rất ngại ngùng phải dậy học cho đám trẻ thiếu niên đi tỵ nạn một mình, vì các em . . . khó dậy, không chịu tiếp xúc . . . Riêng đối với Jenny, cô không thấy có gì trở ngại cả, vì cô hiểu tâm tình của đám trẻ này, cứ để cho các em tâm sự với cô về những khó khăn của cuộc sống, cô nhờ nhân viên xã hội giải quyết những điều các em mong muốn, rồi sau đó mới dậy học cho các em nhỏ này. Việc quan trọng nhất mà Jenny muốn hướng dẫn họ là, nên đi học trở lại để có kiến thức và có một tương lai tốt đẹp hơn.

Cũng vì tình thân với người Việt, đã có nhiều người mời Jenny dự đám cưới của họ, và cô rất vui khi được mặc áo dài để bưng mâm ngũ quả đi rước dâu.
Gia Đình hạnh phúc.

Trong một buổi barbecue mời tất cả các . . . cư dân của đảo Galang, cô giáo Jenny lại gặp lại người thanh niên thường hay lảng vảng ngoài lớp học của cô hồi còn ở trại tỵ nạn. Anh chàng cũng vẫn đứng một mình, tay cầm lon coca xoay qua xoay lại chứ không bắt chuyện với ai. Cô giáo Jenny nghĩ rằng anh này chắc . . . không biết tiếng Anh, hoặc là ít nói, nên đã tới nói chuyện với anh ta.Anh vui vẻ nói chuyện, tự giới thiệu tên là Sơn, hiện đang làm việc cho Australia Post, tại Blackburn Mail Centre. Cô Jenny rất là ngạc nhiên khi biết anh . . . biết nói tiếng Anh, và lại nói khá nữa:
“Ah! Vì anh biết nói tiếng Anh rồi, nên mới không tham dự lớp học của tôi ở trại tỵ nạn, có phải vậy không?”
Lại trái với dự đoán của Jenny khi anh con trai trả lời:
“Không phải vậy. Hồi đó, quả thực tôi dở tiếng Anh lắm. Vì tình trạng chiến tranh, tôi chỉ mới học hết lớp 11 mà thôi. Đến khi Việt Cộng chiếm miền Nam, tôi là con Lính Cộng Hòa nên đâu có được tiếp tục học nữa, tôi phải đi bán hàng với mẹ để kiếm sống cho gia đình, bao nhiêu tiếng Anh tôi học ở trường, tôi quên hết trơn, nên tôi đâu có biết học từ đâu? Thấy cô dậy học, tôi cũng muốn vô học, nhưng thấy mình lớn rồi, vô học không biết một câu tiếng Anh tiếng U nào hết . . . mắc cở với đám con nít lắm . . . nên tôi chỉ đứng ngoài nghe lén mà thôi. Hơn nữa, cô nói tiếng Anh của người Úc . . . khó nghe quá, tôi nghe như là . . . vịt nghe sấm . . . chẳng hiểu cô nói gì hết, thì làm sao mà học?”
Cô giáo Jenny lúc nào cũng có thói quen nghề nghiệp, cô khuyến khích Sơn:
-“Anh nói tiếng Anh hay lắm, lại được làm ở Australia Post thì đời sống cũng khá lắm rồi . . . nhưng nếu anh muốn, anh có thể đi học lại, vô đại học học nghành nào mà anh thích, biết đâu lại có tương lai sáng sủa hơn!”
-“Tôi cũng muốn lắm, nhưng tôi . . . mới học xong lớp 11 chứ chưa tốt nghiệp trung học, làm sao tôi có thể vô đại học được?Hơn nữa, tiếng Anh của tôi chỉ đủ để làm việc thôi, chứ chưa đủ để học đại học đâu.”
-“Anh đừng lo, tôi có thể giúp anh về phần tiếng Anh, anh sẽ dư sức học. Ở Úc có những trường cao đẳng, gọi là trường TAFE (Technical And Further Education) dành cho những người chưa học xong trung học, tôi sẽ giới thiệu anh với chú tôi, một giáo sư của trường Footscray Institute of Technology (FIT- sau này nhập chung với trường Đại học Victoria University) để chú giải thích cho anh nhiều hơn.”

Khi về nhà, anh Sơn mới kể lại câu chuyện cho người bạn cùng phòng là anh Lê Hữu Giàu nghe.Anh Giàu cũng khuyên anh Sơn nên đi học để có tương lai khá hơn.

Thế là anh Sơn đi gặp Giáo sư Douglas Ramm để vấn kế. Ông Douglas làm đúng luật, đã đưa đơn cho anh điền để học thử ba môn học về Civil Engineering xem kết quả ra sao cái đã. May mắn, anh đậu hết cả ba môn toán học này, ông Douglas liền hướng dẫn anh một lần nữa nộp đơn xin học khóa Bachelor of Civil Engineering.

Thực sự thì Sơn chưa muốn hoàn toàn định cư ở bên Úc, đầu óc của anh vẫn còn hướng về Việt Nam: Khi Sơn còn ở trên đảo Galang, anh đã có nghe về Phong Trào Phục Quốc của Tướng Hoàng Cơ Minh, Sơn định cư tại Úc đúng vào thời điểm Phong Trào Phản Chiến bộc phát rất lớn, Sơn nhớ lời cha dặn là ráng tìm cách gia nhập bất cứ tổ chức kháng chiến nào, để trở về Việt Nam tiêu diệt bọn Cộng Sản, khôi phục lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa thân yêu tràn đầy tự do và lòng nhân ái. Do đó, khi được chấp nhận cho học, Sơn phân vân không biết nên lựa chọn con đường nào? Anh đem việc này ra bàn với Jenny.Tiếc thay, cô giáo Jenny chỉ có thể giúp anh trau dồi Anh ngữ thôi, chứ không có khả năng giúp anh về vấn đề này, nên Sơn quyết định không nộp đơn xin học, mà chờ tin để trở về Việt Nam cùng với các bạn bè trong nhóm.

Buồn thay, tổ chức phục quốc càng ngày càng im tiếng và không có ai liên lạc với anh để nói tới ngày về cả. Sơn đành phải nộp đơn xin đi học và bảo lãnh cha mẹ qua Úc chung sống.

Muốn tỏ tình với một cô gái đã là chuyện khó rồi, huống chi cô gái này lại còn là cô giáo dậy tiếng Anh nữa, công việc càng trở nên phức tạp và . . . khó khăn hơn.

Một lần đến nhà Jenny ăn cơm tối, Sơn đem theo cây đàn hát tặng Jenny bản nhạc “Nắng Chiều”:
“. . . Anh nhớ xót xa dưới tre là ngà
Gợn buồn nhìn em anh nói: “Mến em!”
Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi
Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi . . .”
(Nhạc Lê Trọng Nguyễn)
Hát xong bản nhạc, Sơn đã hỏi Jenny bằng tiếng Việt:
“Jenny à . . . nếu tôi muốn nói . . . anh yêu em . . . bằng tiếng Anh, thì . . . làm cách nào để nói?”
Jenny thích bản nhạc Nắng Chiêu quá, đang lo hát theo, nên không biết mánh của Sơn, cô ngây thơ trả lời:
“Thì nói . . . I love you . . . dễ mà.”
Thế là Sơn vừa khẩy đàn vừa nhìn Jenny mà hát câu hát để đời:
“I love you . . . I love you . . . and I love you . . .”
Sơn hát đến lần thứ ba thì Jenny mới hiểu, cô đỏ mặt hỏi lại Sơn bằng . . . tiếng Anh:
“Are you serious?”
Sơn lại trả lời bằng . . . tiếng Việt:
“Anh nói thiệt mà!”.

Sơn tốt nghiệp thủ khoa khóa Civil Engineer của FIT vào năm 1990.Một tháng sau khi cha mẹ Sơn qua định cư ở bên Úc, Jenny và Sơn làm đám cưới. Jenny rành đủ sáu câu về đám cưới Việt Nam, nên cô đòi đủ thứ . . . nào là áo cưới cô dâu, vương miện, bông tai, dây chuyền vàng, ngũ quả, heo sữa và pháo nổ . . . thậm chí cả phong bao lì xì cho đám con nít giữ cửa ở nhà gái khi rước dâu cũng phải có đầy đủ.

Ba Mẹ của chàng rể Sơn mới từ Việt Nam qua, nghe đằng nhà gái nói tiếng Anh líu lo cứ như là chim hót, chẳng biết người ta nói cái gì, nhưng cũng biết đó là những lời chúc tụng cho cô dâu chú rể.Khi mẹ chồng được mời ra đeo dây chuyền cho cô dâu, thiếu điều bà phải bắc ghế đứng lên mới quàng dây chuyền qua cổ cô dâu Tây được. Đằng nhà gái lần đầu tiên nhìn thấy cô dâu và đám phù dâu mặc áo dài thật là đẹp, thấy người nhà bưng các khay đựng đủ thứ bánh trái, rồi lại được nghe pháo nổ đì đùng khói bay khét lẹt . . . thật là vui . . . vui quá xá là vui.

Vì tốt nghiệp ưu hạng, Sơn được học bổng của chính phủ để học Master, nhưng việc đầu tiên của người chồng và người con là phải lo làm ăn kiếm tiền lo cho gia đình và phụng dưỡng cha mẹ, nên Sơn đã từ chối học bổng để đi làm với công ty xây cất John Holland, và được cử đi làm việc ở Kuching, Mã Lai.

Đứa con gái đầu lòng tên Lanna của hai vợ chồng ra đời vào tháng 4 năm 1993, chỉ một tháng sau là Jenny đã được hưởng Mother day lần đầu tiên trong đời.
Cô gọi điện thoại về Úc chúc mừng mẹ:
“Chúc mẹ một ngày “Mother day” vui vẻ . . . và cũng một ngày “Mother Day” vui vẻ cho chính con nữa . . . vì con cũng đã là mẹ của bé Lana rồi.”

Đến năm 1995, em trai của Lana cũng đã chào đời, được ba mẹ đặt tên là Liam (Từ khi Jenny mới bắt đầu mang bầu, hai vợ chồng đã bàn tính suốt chín tháng trời để tìm cách đặt tên cho con, những cái tên nào vừa có sắc thái của Vương Quốc Anh, lại vừa vẫn có vẻ là một cái tên Việt Nam. Lana cũng có nghĩa là Lan và Liam cũng có thể đọc là Liêm.Ông Bà Nội cũng đọc tên các cháu được, mà Ông Bà Ngoại cũng cảm thấy happy khi gọi tên hai đứa cháu của mình.)

Khi các con đã lớn, và cha mẹ đã có phần già yếu, Sơn và Jenny quyết định xin trở về Úc làm việc. Lana thi đậu vào trườngMac Roberson và tốt nghiệp VCA với số điểm ưu hạng 99.30 nhưng cháu lại không muốn học Y, Nha, Luật . . . mà chỉ muốn theo gót của mẹ, học Art ở Melbourne University, thời giờ rảnh thì cháu . . . đi làm việc thiện nguyện. Còn Liam thì học IT ở RMIT University với ước mơ trở thành . . . tài tử đóng phim, trong khi Jenny thì đi dậy trở lại ở VUT – Victoria University of Technology.

Lana và Liam được mẹ cho biết gốc gác của mình là . . . dân tỵ nạn Việt Nam, vượt biên tới đảo và được định cư ở Úc, nên lâu lâu, hai chị em đùa dỡn với nhau, Liam đóng vai Việt Nam, nói với chị:
“Tôi là . . . Vietnamese Boat people . . . tôi không biết nói tiếng Anh . . .”
Lana đóng vai cô giáo, nghiêm trang trả lời:
“If you be good . . . I will teach you how to speak English . . .”
Jenny và Sơn nhìn nhau cười.

Vào khoảng tháng Ba Năm 2011,trận bão Yasi đã tàn phá hầu hết những trang trại trồng chuối ở Queensland, giá bán chuối ở các siêu thị vọt lên tới con số kỷ lục là $14.00 một Ký, có nơi còn không có chuối để mà bán.
Sáng sớm ngày Mother’ Day năm 2011, ba cha con mặc quần áo đẹp đẽ, trịnh trọng lái xe đi chợ, khệ nệ đem một gói quà thật lớn đưa tặng cho mẹ. Hai chị em cùng la lớn:
“Happy Mother’ Day my dear Mummy”.
Jenny mở gói quà ra: Một nải chuối với năm trái chín vàng óng ánh.
Jenny sung sướng cười thật tươi, nhưng vẫn cự nự chồng:
“Chuối mắc lắm, anh mua làm chi cho tốn tiền.”
Lana và Liam lại đồng thanh nói:
“Chúng con có tiền . . . chúng con mua tặng mẹ.”
Phần của Sơn là một bó hoa đỏ thắm đưa tặng vợ.

Jenny bị cancer ruột từ năm 2006, coi như đã lành bệnh sau nhiều ca mổ, nhưng đến cuối năm 2011 thì bệnh của cô lại tái phát, qua những vết sẹo còn lại của những ca mổ trước đây. Sơn nghỉ làm suốt ngày luẩn quẩn tại bệnh viện St. Vincent lo chăm sóc cho Jenny. Nhà thương thấy vậy, cho Sơn mướn luôn một phòng để ăn ngủ tại chỗ cùng với vợ.
Những ngày cuối của cuộc đời, hai đứa con cũng nghỉ học để ở bên cạnh mẹ.
Lana và Liam nắm tay mẹ mà nói:
“Mẹ sẽ khỏe lại mà . . . Mother’s Day năm tới chúng con sẽ lại mua chuối cho mẹ ăn nữa nha.”
Sơn so lại phím đàn, hát cho Jenny nghe bản nhạc “Bên Kia Sông”:
“. . . Này người yêu, người yêu anh ơi!
Bên kia sông là ánh mặt trời
Này người yêu, người yêu anh hỡi!
Bên kia đồi, cỏ hoa đan lối
Bên kia núi, núi cao chập chùng
Bên kia suối, suối reo lạnh lùng
Là bài thơ, toàn chữ hư vô . . .”
(Nhạc của Nguyễn Đức Quang.)

Cô Giáo Tỵ Nạn Jenny Ramm ra đi vào ngày 10 01 2012 với tuổi đời 58 còn rất trẻ trung, để lại chồng và hai đứa con.
Từ bốn phương trời, những người dân Việt tỵ nạn ở đảo Galang trước đây đã được cô giáo Jenny dậy học tiếng Anh đã gởi thơ chia buồn đến cho gia đình:
“Jenny . . . chúc chị ra đi bình yên . . . Tên của chị, hình bóng của chị, tiếng Anh của chị dậy . . . sẽ không bao giờ phai nhòa trong trí óc chúng tôi . . .”

Cô Giáo Tỵ Nạn Jennifer Joy Ramm, đã đem tất cả lòng nhiệt thành và tuổi trẻ của mình ra để phục vụ người tỵ nạn khắp bốn phương trời, nhất là người tỵ nạn Việt Nam
CÔ DÂU CỦA NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN . . . LÀ NHƯ THẾ ĐẤY.

Nguyễn Khắp Nơi
(Viết theo lời kể của anh Nguyễn Sơn và các con.)

Blog at WordPress.com.

Up ↑