SẼ CÒN MÃI NHỮNG ÁNH MẮT, NỤ CƯỜI – Nancy Nguyen

Chuyện xảy ra khi tôi mới chỉ học lớp hai, cái tuổi đi học còn mang dép trái, câu chuyện của một đứa trẻ nít sáng sáng đến trường còn khóc nhè đòi mẹ. Ai có thể tin rằng một sự việc chỉ thoáng qua trong vài giây ngắn ngủi lại có thể hằn sâu thành ký ức trong tâm hồn của đứa bé ở tuổi ăn còn phải dỗ, ngủ võng còn phải đưa như tôi thủa ấy. Chính tôi cũng không thể ngờ sự việc đó lại theo tôi, đeo bám tôi đến tận bây giờ, và khi nghĩ lại, tôi thầm cám ơn cuộc đời đã ưu ái tặng tôi một món quà lớn.

A-hau-Thanh-Tu-16

Năm đó tôi học lớp hai, cô giáo tôi là một cô giáo mới ra trường, còn rất trẻ, chắc là nhỏ tuổi hơn tôi bây giờ, và rất dễ thương. Cô hiền và hát rất hay. Chỗ tôi ngồi là dãy bàn đầu tiên gần bảng nhất, tấm bảng đen bạc thếch, vằn vện những vết mốc nắng mưa. Tôi ngồi sát bên góc trái, kế bên tôi là bức vách quét vôi vàng còn dơ dáy, bạc thếch và nhiều tuổi hơn cả tấm bảng đen. Vì ngồi ở góc xéo rất xa đó mà tôi luôn chỉ có thể nhìn thấy một nửa mặt cô trong khi những đứa khác có thể nhìn thẳng vào mắt cô đen láy, dạt dào nhiệt huyết của một cô giáo yêu nghề, yêu trẻ. Ông trời cho ta cái này sẽ lấy đi của ta cái khác, cũng vậy, ông trời lấy của ta cái nọ chắc chắn sẽ lại bù đắp cho ta cái kia. Cũng chính nhờ ngồi ở góc đó mà tôi có thể nhìn thấy mặt cô giáo tôi ngay cả khi cô quay lên bảng viết bài khi những đứa khác chỉ có thể nhìn thấy lưng cô. Cô tôi hiền, hiền lắm, cô giáo trẻ mới ra trường mà. Cũng tại cô hiền nên đám học trò đâm ra làm biếng. Làm biếng không học bài thì bị la là lẽ dĩ nhiên rồi, vậy mà tụi tôi đua nhau … khóc nhè. Mỗi lần như vậy, cô giáo lại ẵm tụi tôi lên dỗ dành, mái tóc dài nhưng có phần xơ xác của cô nhẹ phủ qua bờ vai gầy guộc, ôm lấy một dáng hình mỏng manh, yếu ớt đang ấp ủ một dáng hình khác -cũng mỏng manh, yếu ớt – vào lòng. Nhiều lúc tôi có cảm giác cô đang đối xử với chúng tôi như với những đứa nhỏ học lớp măng, lớp chồi, hay lớp lá ở mẫu giáo vậy! Chúng tôi đã bảy tuổi rồi, chúng tôi “lì” và “ma le” hơn tụi mẫu giáo nhiều chứ! Vậy nên thấy cô hiền thì tụi tôi làm tới. Tôi còn nhớ rõ Thắng, anh bạn tôi ngày ấy. Thắng có dáng người mảnh khảnh, mắt sáng, da ngăm sạm, đầu tóc và lông mày lúc nào cũng đen đúa màu bụi bặm, răng hắn kểnh một bên, má cũng lúm một bên đồng tiền. Thắng ngồi tuốt trong góc của bàn áp chót. Cái thân hình tự nhiên của một đứa trẻ sáu tuổi rưỡi, bảy tuổi ở một đất nước mà bơ hay sữa chỉ là thứ gì đó rất mơ hồ và xa xỉ, những bữa cơm có rau luộc với thịt kho là ngon lắm rồi làm cho dáng ngồi của hắn trong góc lớp đã gầy gò, dúm dó, lại càng gầy gò, dúm dó hơn. Và Thắng là đứa quậy nhất trong lớp tôi khi ấy. Thắng thường xuyên không học bài, trốn học đi chơi, học hành kém cỏi, biếng nhác. Cô giáo tôi buồn lắm, đã la Thắng nhiều mà Thắng vẫn chứng nào tật nấy, nhất nhất không có tiến bộ. Tôi còn nhớ như in buổi trưa hôm đó, một trưa thứ bảy có lẽ là của cuối tháng tư. Tôi đoán là cuối tháng tư phần vì thời gian đó chúng tôi sắp thi học kỳ hai, phần vì tôi nhớ cái nắng ấy, cái nắng gay gắt, hanh hao, khổ sở của trưa Sài Gòn độ cuối tháng tư không lẫn vào đâu được. Tôi biết là thứ bảy vì đó là tiết sinh hoạt lớp cuối tuần. Cả lớp đang ngồi im nghe cô giáo tôi tổng kết, mấy mươi đôi mắt ngây ngô đen sáng, tròn xoe dưới làn tóc mái lởm chởm, nhôm nhoam chăm chú nhìn cô. Cô tôi ôn tồn nói:
– Tuần này các con đều ngoan, có bạn Tiến, bạn Dũng với bạn Thắng hôm thứ ba nghỉ không có phép của phụ huynh, hôm thứ tư thì bạn Nga với bạn Thắng không thuộc bài “Tiếng Hát Sông Lô” còn hôm qua thì Thắng không nộp bài tập toán.
Cô quay sang Thắng: Thắng, con trả lời cô xem tại sao con không chịu học bài? Thắng đứng lên, dù là đứa lười và phá nhất trong lớp, bản năng của một đứa trẻ bảy tuổi sợ mắng cũng làm cho nó run. Thắng đứng im, không trả lời cũng không nhúc nhích, vẻ lì lợm thoáng hiện trên nét mặt tuy non nớt nhưng ngăm sạm màu nắng.
– Con làm cô buồn lắm, con biết không? – Thắng vẫn đứng yên, không cử động
– Con phải biết đọc, biết viết, biết làm toán thì mai mốt mới thành người tốt được chứ! – cô tôi tiếp, Thắng vẫn đứng im
– Con không sợ ba mẹ con buồn lòng sao? – Thắng vẫn đứng im, nét mặt không còn run và tái như lúc mới bị gọi lên nữa, trái lại, đôi mắt của đứa trẻ sáu tuổi rưỡi có vẻ già trước tuổi đi nhiều. Cái đứa tôi sáu tuổi rưỡi khi nhìn vào đôi mắt ấy thật chẳng hiểu gì, chỉ thấy căng thẳng và sợ hãi như đứa trẻ sợ ngáo ộp vậy thôi.
Cô tôi vẫn nghiêm nét mặt, nét mặt đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in, khi ấy tôi còn quá nhỏ để nhận ra đó là nét mặt của một người mẹ, nghiêm nghị, buồn rầu và khổ đau. Cô tôi nói tiếp: “Chẳng lẽ ba mẹ con không bao giờ nhắc con học bài sao?”
– Dạ không! – Thắng đột ngột trả lời – Ba mẹ con đi lượm ve chai từ sáng đến tối mới về.
Cô giáo tôi lặng đi sững người, mắt mở to nhưng vô hồn. Bởi cái cô tôi thấy bây giờ không còn được nhìn bằng mắt nữa nên đôi mắt hoá dư thừa đâm ngây dại. Cô giáo tôi quay vội lên bảng cặm cụi hí hoáy viết lời của bài hát “Lớp Tôi” và nói vọng xuống lớp: “Bây giờ ta học hát.”
Từ góc xéo nhất nơi tôi ngồi, có lẽ chỉ một mình tôi là biết cô giáo tôi đang khóc.

Chỉ là phù du thôi
Chỉ là phù du thôi

Người ta nói: “con người sanh ra bình đẳng, chết đi bình đẳng” có thật như vậy không? Có kẻ làm vua từ trong bụng mẹ, sanh ra trong nhung lụa giàu sang, lại có kẻ chịu kiếp ăn mày từ trước khi cất tiếng khóc chào đời. Như vậy há chẳng phải con người ta từ trước khi sanh ra đã có sẵn một địa vị, một vị trí nào đó trong cái xã hội xô bồ này rồi sao? Cái địa vị đó có giữ được không và giữ được bao lâu lại là chuyện khác, nhưng câu nói “con người sanh ra bình đẳng” có thật là đúng không? Nghèo khổ là một cái tội! Nhưng thật tàn nhẫn khi bắt những đứa trẻ chưa bước nổi ra khỏi cổ tích phải gánh chịu nó, đó là sự thiếu thốn tình thương, thiếu thốn sự quan tâm của người làm cha, làm mẹ. Cuộc đời cướp đi của chúng và của anh bạn tôi, Thắng, cái hồn nhiên, ngây ngô trẻ con quý báu. Cuộc đời bắt những trái tim non nớt đó phải chà sát, phải chai sạn. Rồi lạnh lùng, cuộc đời lấy mất của chúng tuổi thơ, cái mà bất cứ đứa trẻ nào cũng cần và đáng được có, đáng được hưởng. Một mai khi chúng lớn lên, cái gì sẽ là kỷ niệm ấu thơ ngọt ngào, trong vắt, giòn dã tiếng cười làm hành trang cho chúng vào đời? Cái nhìn của những con người như thế về cuộc đời này, về kiếp người này rồi sẽ ra sao? Có ai đảm bảo rằng cái nhìn ấy chắc chắn sẽ vẫn vuông tròn, đầy đặn? Có ai đảm bảo rằng cái nhìn ấy sẽ chẳng méo mó, lệch lạc bởi những tì vết hằn sâu trong tiềm thức từ thủa còn bé thơ? Nước mắt của cô giáo tôi chắc không phải chỉ riêng cho mình Thắng. Tôi không gặp được cô nữa để hỏi cô đã khóc cho những ai, nhưng tôi tin rằng cô đã khóc cho tất cả những đứa trẻ bị cuộc đời đánh cắp mất tuổi thơ và sự chăm sóc.

Từ giây phút cũ kỹ ấy, hình ảnh cô giáo giáo tôi với đôi mắt đỏ cay nồng và những giọt nước mắt lấm lem bụi phấn đã đi vào tâm trí tôi, làm hành trang theo tôi vào đời: hành trang Niềm Tin, một niềm tin sắt son vào tình người. Khi bạn vấp ngã giữa dòng đời hãy tin rằng xung quanh bạn luôn có những cánh tay sẵn sàng giúp vực bạn đứng lên. Khi bạn cảm thấy cuộc sống quá đớn đau, hãy tin rằng quanh bạn vẫn luôn có những tấm lòng.

Đâu đó bên kia góc khuất của những dãy hành lang, những toà nhà là những tâm hồn rất “Người” đang toả sáng. Và cô giáo lớp hai của tôi, với khuôn mặt trắng loang loáng màu nước mắt và bụi phấn, là hình ảnh đẹp nhất mà đời tôi từng có được, nó nuôi dưỡng trong tôi một niềm tin sắt son vào cuộc sống và tình người.


Nancy Nguyen

Y Tế Của Nước Úc – Tác Giả Uyên Di

Mùa Hè này lại đến sinh nhật 9 tuổi của cậu con trai nhạy cảm. Năm cậu sinh nhà thương công thật đông người. Tôi được xếp nằm chung phòng với một cô Tây, chúng tôi cùng xài chung phòng tắm, phòng vệ sinh.

12494824_10204839739588215_1237097690125468124_n

Sau 3 năm vận động dân Úc sinh đẻ bằng câu nói để đời của Tổng Trưởng Bộ Ngân Khố thời Thủ Tướng John Howard, ông Peter Costello “sinh 1 con cho mẹ, 1 cho cha và 1 cho đất nước”. Tuy nói vậy nhưng mỗi năm từ lúc khuyến cáo dân Úc đẻ, số tiền thưởng từ $5 hay $7 ngàn cứ giảm chút ít hàng năm. Đến khi tôi sinh cậu bé ĐB thì chỉ nhận được $3000.

Sinh con lần này không khó nhưng khó nhất là phải chia phòng với nàng Tây. Thấy nàng khó tính và có phần dữ quá nên tôi cũng ngại không tiếp xúc hỏi han. Cứ mỗi lần nhà thương đưa xuất ăn vào là y như nàng mở máy chửi. Câu chửi của nàng đại loại như sau

– Má nó! Bao năm đi làm đóng thuế cho nó giờ vào nhà thương nó cho ăn thế này nè. Đồ ăn còn tệ hơn cho chó ăn/ (cách nói của nàng không thể dịch là tôi được) tao cho con chó ở nhà ăn còn ngon hơn như vầy nữa! Hoặc, mẹ nó, cơm tù còn ngon hơn thế này nữa! Hoặc, nó coi mình là cái thứ dân gì mà cho ăn thế này!…

Ôi thôi nàng chửi ngày 3 bữa ba ngày liên tiếp. Một điều lạ là nàng lại đối xử khá tử tế với tất cả nhân viên phục vụ và y tá tại đấy, chỉ khi người giao thức ăn ra khỏi phòng thì nàng mới bắt đầu chửi. Chắc nàng hiểu mức ăn thế ấy là do chính sách tài trợ của chính phủ chứ không phải do lỗi của nhà thương.

Cơm nhà thương thì theo tôi không thật ngon nhưng cũng tạm qua ngày. Mỗi sáng nhân viên đến phòng dọn dẹp lau chùi làm giường, thay tấm ra. Trong khi họ làm việc đấy thì tôi được chọn các phần ăn cho ngày hôm sau. Các phần ăn gồm 1 phần thịt hay cá nấu nhiều kiểu, rau các kiểu và cơm/nuôi hoặc khoai tây.

Từng là người sống ở một nước mà nếu vào nhà thương muốn được đối xử tốt còn phải trả tiền thì tôi thấy trải nghiệm nhà thương ở Úc là như lên thiên đường vậy!

Mỗi lần đảng đang cầm quyền lãnh đạo đất nước rục rịch bàn đến việc cắt giảm ngân sách y tế là dân Úc bắt đầu phản đối ở nhiều mức nặng nhẹ tuỳ theo hoàn cảnh. Các tổ chức truyền thông là tiếng nói của dân nên những quyết định về chính sách của chính phủ luôn luôn bị người dân chất vấn. Dân Úc sống trong xã hội dân chủ từ trong trứng nước nên họ hiểu rất rõ quyền lực của họ. Phần đông dân Úc cũng có cái nhìn đa dạng nên đài truyền thông nào có phát ngôn viên giỏi thông minh, sắc bén thì đài đấy thu hút được nhiều người nghe.

Trở về với việc sinh nở của tôi, như bài viết trước tả việc tôi đi sinh lần đầu và những bỡ ngỡ với những đài thọ quá rộng rãi của nhà thương. Lần này thì lại có những ngặc nhiên khác. Do cậu con trai của tôi hay khóc nhè nên mỗi đêm y tá đến sau giờ cậu được bú và bế cậu đi nơi khác. Nhớ bà y tá tuổi trung niên vỗ vỗ vai tôi ân cần bảo “cô có đứa thứ nhì rồi thì rất khó nghỉ ngơi, ở trong đây tranh thủ ngủ vài giờ đi!” Nói rồi bà bế con tôi đi qua phòng dành cho baby.

Cậu con trai của tôi sinh ra trong điều kiện tốt nhất; được theo dõi sức khỏe từ khi là thai nhi, khi sinh ra y tá còn tới nhà khám rồi được chích đủ các loại thuốc ngừa, cân đo kỹ lưỡng… Chưa làm gì cho được cho đất nước này, cậu đã làm tốn thêm rất nhiều tiền nhà thương khi bị 2 tai nạn do tính liếng khỉ mà ra. Số nợ này chúng tôi không biết là bao nhiêu, chỉ biết mình may mắn sinh con trong một đất nước may mắn. Sự may mắn đó không phải là do ngẫu nhiên.

Phần đông người Úc rất quan tâm đến chính trị, vũ khí mềm họ dùng hàng ngày là quyền tự do ngôn luận để keep the bastards honest (“giữ cho mấy thằng cha lãnh đạo thật thà” là câu nói thông thường của dân Úc). Trong một xã hội dân chủ người dân phải đấu tranh hằng ngày để giữ mức dân chủ vì họ thấu hiểu rằng chính phủ nào rồi cũng tồi nếu có trong tay quyền tự tôn tự tác.

Uyen Di

Một nẻo đường đã qua ( Nancy Nguyễn )

Hôm nay bỗng thiết tha thèm viết, viết để thương, viết để xót, viết để nhớ, viết để quên. Viết để tìm lại mình của quá vãng, viết để tìm thấy mình ở tương lai. Viết để sắp xếp lại tâm tưởng bị cuộc sinh đẩy xô ngang ngổn, viết để trừng mắt nhìn thẳng vào linh hồn mình rệu rão. Hay đơn giản, viết để lại được là mình, thế thôi. Và Hoài niệm, thằng bạn ác ôn của nhiều cuộc bút, lần này đưa tôi về những con hẻm Thái Lan. Nhớ ngoay ngoắt một nẻo đường, một con phố, một hàng cây.

1617644_645844125529846_6268093080979553055_o

Mười mấy năm xa xứ, bỗng một ngày thấy mình lọt thỏm giữa “Việt Nam”. Nhưng không phải VN bây giờ, mà là VN của muôn năm cũ. Đường khuya. Gió hanh. Nóng thiết tha miền nhiệt đới. Bạt vào mắt. Bạt vào tai. Không gian nhoè ù đi. Và những gì đang diễn ra dường như được ngắm nhìn bằng đôi mắt của ký ức.

Tôi đặt bàn chân mình lên vỉa hè xi măng. Nhắm nghiền mắt lại để nghe tiếng xe tuk tuk. Ngày xưa, trong những con hẻm lớn, những chiếc xe lam cũng đã từng đưa người như thế. Từ tờ mờ sáng cho đến tận tối khuya. Tất tả. Hối hả. Vội vã. Những chuyến xe chật nứt những dáng hình chen chúc bên nhau. Mùi người. Mùi người nồng nàn. Mùi đời. Mùi đời da diết.

Bắt một chuyến “xe lam” ra phố, ánh đèn nê ông sáng trưng lòng đường. Tôi thấy mình lọt thỏm giữa những mãn cầu, chôm chôm, giữa những thanh long, nhãn lồng. Bất chợt, tôi đưa tay lên níu, để rồi chới với giữa hư không. Cái đứa tôi năm nay đã ngoài ba mươi tuổi, và người mà tôi hay cố nài nỉ, quấn lấy, níu kéo, xin đi theo để vòi vĩnh quà chợ, người đã ở bên kia thế giới mất rồi…

Tôi biết mình phải đi, phải thoát ra khỏi đây, kẻo ký ức nuốt chửng tôi mất! Vẫy taxi, tôi lao về Khaosan, khu phố gần như được dành riêng cho du khách nước ngoài với hàng hà sa số những quầy hàng lưu niệm nài kéo. Phố xá nhộn nhịp, đông đúc, cả Tây lẫn Á. Vậy mà vẫn không thể nào giải thoát tôi khỏi cơn bố ráp của dĩ vãng. Bủa vây. Ám ảnh. Tôi tự tha hoá mình bằng một chai bia Leo loại lớn và một bịch côn trùng chiên giòn, được bán ngay giữa lòng đường, trên những chiếc xe đẩy dạo. Cái đứa tôi, một tay xách bia, một tay cầm mồi, cứ thế lang thang. Lang thang. Lang thang. Bước chân nào là Mĩ Tho, Rạch Giá, bước chân nào là Sài Gòn, Biên Hoà. Bước chân nào là Bến Thành, Chợ Lớn, bước chân nào là những chuyến lưu vong. Nghĩ hoài đến việc hầu như mọi cảnh quay về Hòn Ngọc Viễn Đông trong những thước phim hoành tráng hầu như đều được dựng ở Thái Lan. Nhà đạo điễn còn tự hào “Ở đó, có một cái gì rất tiêu biểu, rất đẹp, của một xứ Đông Dương”. Và đời tôi có một đêm tháng Tám như thế, nước mắt hoà vào bia, đậm đà rất ngon, ngon đến nghẹn lòng.

Dân tộc tôi, đất nước tôi, từ cái thuở tôi mới lọt lòng, mẹ đã mong một ngày tôi lớn “được ra nước ngoài”. Dân tộc tôi, đất nước tôi, “đến cái cột điện mà đi được, nó cũng bứng gốc mà đi nước ngoài”. Dân tộc tôi, đất nước tôi, những con người, từ thủa mới được sinh ra, đã lưu vong trên chính quê hương mình.

Hôm nay bỗng thiết tha thèm viết, viết để thương, viết để xót, viết để nhớ, viết để quên.

Nancy Nguyễn

 

Blog at WordPress.com.

Up ↑